skip to Main Content

10 bài suy niệm Chúa Nhật V Mùa Chay (Lm. Anmai, CSsR)

Ném hay tha?

Chúa Giêsu từ Cha mà xuống trần gian, không phải để tố cáo, để kết án tội nhân, nhưng để cứu rỗi họ. Nhờ đời sống, sự chết, sự sống lại của Người, Người ban tặng cho những người nhất là những người tội lỗi sự sống của Thiên Chúa. Trang Tin mừng hôm nay chúng ta nghe Thánh Gioan thuật lại gợi lên hình ảnh, tấm lòng hết sức tuyệt vời của Chúa Giêsu về sự tha thứ, về sự cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người.

Câu chuyện xảy ra trong Tin mừng xác thực và rõ ràng. Ngoại tình là một trọng tội ít gặp. Để được tha, cần làm việc đền tội công khai, lại chỉ được tha một lần thôi. Cách cư xử của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ ngoại tình, với những con người vụ luật và khắc khe thì dễ dãi quá. Nhiều người trong số họ đã quên mất câu “Hãy về và đừng phạm tội nữa”. Họ nghĩ rằng cách cư xử dễ dãi như thế của Chúa Giêsu sẽ đe dọa sự trung tín trong hôn nhân. Sau một ngày giảng dạy ở đền thờ, chiều xuống, theo thói quen, Chúa Giêsu lên núi Ôlivê. Sáng sớm hôm sau, Người lại vào Đền thờ giảng dạy dân chúng.

Các kinh sư và những người Pharisêu từ lâu đã bất bình với Chúa Giêsu. Không chỉ dừng lại ở thái độ bất bình nhưng họ đã thù nghịch nghĩ rằng giáo huấn của Chúa Giêsu làm đảo lộn tất cả. Với những lý do ấy họ quyết định tìm đủ mọi cách để trừ khử Người. Tuy nhiên, để đưa Người ra xét xử, cần phải có một chứng cứ đúng đắn.

Một cơ hội không mong đã đến. Một thiếu phụ “bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình”. Rẽ đám đông, các kinh sư và những người Pharisêu dẫn chị vào “giữa” đám đông đang tụ họp và nói với Chúa Giêsu: “Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”

Chúa Giêsu không còn cách nào thoát khỏi cạm bẫy đã giăng của đám người xấu. Không thể bào Chúa Giêsu thoát khỏi cạm bẫy này! Nếu tha, Chúa Giêsu sẽ chống lại luật Môsê. Ném đá, Người tự mâu thuẫn vì Người vẫn rao giảng lòng nhân từ của Thiên Chúa. Đằng sau án xử người thiếu phụ là chính án xử Chúa Giêsu.

Giờ đây, dây thòng lọng đang xiết dần cả người thiếu phụ, lẫn Chúa Giêsu. Quá tệ! Đây không còn là một vấn nạn, một câu hỏi bình thường của cuộc sống, nhưng là một câu hỏi sinh tử, đối với người nữ phạm tội tày đình cũng như đối với chính Chúa Giêsu.

Vẫn ngồi trong dáng điệu của một ông thầy đang giảng dạy, Chúa Giêsu “cúi xuống” và thay vì trả lời, Người dùng ngón tay vẽ vẽ trên đất.

Nhiều nhà chú giải Thánh Kinh rất quan tâm tìm hiểu xem Chúa Giêsu viết gì trên đất? Thánh Giêrônimô nghĩ rằng Chúa Giêsu vạch tội những kẻ tố cáo người phụ nữ ngoại tình còn nhiều tác giả khác thì cho rằng: Người viết lại một câu trong Jêrêmia 17, l3: “tất cả những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải hổ thẹn, những kẻ quay lưng lại với Ngài sẽ phải ghi tên mình trong lòng đất”. Tốt nhất chúng ta nên trung thành với cách diễn đạt của bản văn. Chúa Giêsu vạch trên đất để kéo đài thời gian thinh lặng, làm cho lời phân xử sắp thốt ra thêm trọng lượng. Người ta như không chú ý tới điều được ghi nhận tới hai lần: Chúa Giêsu “cúi xuống”, rồi “ngước lên”. Sao Thánh Gioan lại nhấn mạnh đến cử chỉ ấy trong một câu chuyện ngắn ngủi như vậy, rồi trả lời. Tên núi Ôlviê được nhắc đền ở đầu câu chuyện đã đặt giai thoại này trong bối cảnh cuộc khổ nạn sắp đến. Cử chỉ của Chúa Giêsu mang một ý nghĩa Kitô học: nó nhắc đền sự hạ xuống, và đưa lên cao mà qua đó, Chúa Giêsu sẽ hòa giải nhân loại bị giam hãm trong tù ngục tội lỗi với Thiên Chúa.

Họ nài nỉ. Trước khi lại chìm trong thinh lặng, Chúa Giêsu nhắc họ lời Kinh Thánh: “Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà nén trước đi. ” Đnl 13,9-10 và 11,7: “Người làm chứng sẽ ném đá kẻ phạm tội trước. Từ lúc ấy, vụ án xử bị cáo lại trở thành vụ án xử nguyên cáo.

Các kinh sư và những người Pharisêu đinh minh mình công chính. Họ đứng đằng sau mặt chữ, đằng sau lề luật để tố cáo người phụ nữ. Ở đây, Chúa Giêsu đưa chính họ ra xét xử dưới ánh sáng của Luật. Người buộc những quan tòa phải tự xét xử chính mình, trước hết, phải trở lại với lương tâm mình, nhìn nhận mình cũng là tội nhân, cùng một thân phận như “người phụ nữ kia”, người mà họ đã lôi ra giữa đám đông và giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi của mình.

Trong vòng vây của những nguyên cáo hung hăng, sự lưỡng lự biến thành cuộc lui binh như thánh sử ghi nhận cách hài hước: “Họ rút lui từng người một, bắt đầu từ người già nhất “.

Khi Chúa Giêsu ngẩng đầu lên “lần thứ hai thì chỉ còn mình Người đối diện với người phụ nữ”. Thánh Augustinô chú giải: “Chỉ còn hai. Lòng thương xót và người được xót thương”. Nếu trước đó, những người tố cáo gọi chị là “hạng đàn bà đó” một cách khinh bỉ, coi chị như đồ vật, thì giờ đây, chị thấy một ánh mắt khác nhìn chị, nghe một giọng khác gọi chị như gọi một con người: “Này chị “. Hơn bất cứ ai khác, Chúa Giêsu là người đo lường chính xác nhất mức nặng nhẹ của tội lỗi; và thay vì giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi như các kinh sư và những người Pharisêu đã làm, Người thúc đẩy chị bước vào con đường hối cải, và mở cho chị một tương lai một “Không ai kết án chị sao? Tôi cũng vậy. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa “.

Sau đó thì sao? Câu chuyện để ngỏ đó giống như dụ ngôn Chúa nhật trước bỏ ngỏ thái độ người anh. Một khi đã gặp Chúa Giêsu Đấng không lên án mà kêu gọi sống đời sống thánh thiện, người nghe thấy mình được kêu gọi để đừng khép mình vào cái khuôn dĩ vãng chết chóc nhưng là bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình đã đi vào huyền thoại hơn 2000 năm rồi nhưng nhiều và nhiều câu chuyện người đàn bà ngoại tình khác vẫn còn diễn ra trước mắt mỗi người chúng ta, diễn ra mỗi ngày trong đời sống thường nhật. Và, với cái lý, cái lẽ hết sức bình thường của con người, người ta vẫn giơ tay ra và hùng hùng hổ hổ ném đá và ném thật mạnh vào người tội lỗi. Và, chắc có lẽ cái cảnh từng người bỏ đi cũng sẽ tái hiện bởi lẽ nhìn lại mình mình cũng quá nhiều tội như nhiều người ngày hôm ấy nên đã từ từ rút lui.

Thật sự ra mà nói những người rút lui hôm nay xem chừng không hay, không đạt được ý nguyện nhưng được một chuyện là lương tâm và sự thật đã thức tỉnh lòng dạ đen tối của họ. Chỉ sợ rằng vấn đề rõ ràng nơi đó mà họ còn cố tình chối tội, họ cố tình lấp liếm tấm lòng nham hiểm của họ.

Đứng trước những lầm lỗi, những khiếm khuyết của người khác, nên chăng con người cần phải khiêm tốn để nhìn nhận lại chính bản thân của mình. Nếu nhìn nhận chính bản thân mình thì con người sẽ thay đổi lối nhìn cũng như lối hành xử.

Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Philip mà chúng ta vừa nghe cho ta bài học về sự khiêm tốn. Với Ngài, tất cả Ngài coi mọi sự đều là rơm rác. Ngay cả sự công chính của Ngài, Ngài cũng nại vào ơn Thiên Chúa ban cho Ngài chứ không phải do tự bản thân của Ngài. Ngài, dẫu đã trở thành môn đệ chân chính của Chúa Giêsu nhưng Ngài vẫn còn phải chạy và Ngài không nghĩ là Ngài thành toàn. Có lẽ nhờ vào lối sống, lối suy nghĩ của Ngài nên Ngài hành xử một cách khác người đó là Ngài không bao giờ lên án ai. Ngài vẫn tự nhận mình là môn đệ rốt hết, Ngài vẫn tự nhận Ngài là con người thấp hèn để rồi Ngài không bao giờ hạ nhục người khác.

Thường, con người vẫn và vẫn tìm cách để hạ nhục người khác dẫu chưa tìm ra chứng cứ. Nếu có chứng cứ như người phụ nữ ngoại tình hôm nay thì lại thêm phần bảo đảm, phần chắc chắn cho sự kết án của họ. Thế nhưng, dù thế nào đi chăng nữa, dù có chứng cứ, dù có bằng chứng nhưng chắc gì những người đưa ra chứng cứ lại là những người vô tội.

Một lần nữa, sự kết án, sự kết tội, sự ném đá với tội nhân vẫn mở ngõ ra cho con người. Con người hoàn toàn tự do sử dụng sự tự do của Thiên Chúa ban cho họ. Hoặc là họ ném đá, hoặc là họ kết án anh chị em đồng loại.

Vấn đề đặt ra là liệu rằng khi ném đá, họ – những người kết án – có thấy mình sạch tội để ném đá, để kết án anh chị em đồng loại hay không mà thôi.

Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA ĐANG LÀM MỘT ĐIỀU MỚI TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Khi người Do Thái đang bị lưu đày tại Babylon, ai trong họ dám nghĩ rằng có ngày họ được trở về quê cha đất tổ? Ngay cả khi còn quyền lực và độc lập còn chưa giữ được đất nước quê hương, còn chưa bảo vệ được chính mình, thì làm sao một khi đã bị lưu đày sang nơi đất khách quê người lại có thể nổi dậy và trở về quê hương, trừ phi Thiên Chúa can thiệp làm những việc kinh thiên động địa như Ngài đã làm cho dân Do Thái thời ở Ai Cập qua Môsê. Thế nhưng sách tiên tri Isaia đã loan báo một niềm hy vọng: Thiên Chúa sẽ cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông nơi đất khô cằn, để dân Ngài được giải khát. Và Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa ấy khi dùng vua Kyrô, một người ngoại giáo, để đưa dân trở về. Một hành động không ai ngờ tới, nhưng lại làm nổi bật quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa: Ngài có thể dùng bất cứ ai để hoàn thành ý định cứu độ của mình. Đối với Thiên Chúa, không có “người ngoại” nào cả; tất cả đều là đối tượng của lòng thương xót.

Nếu như việc đưa dân Do Thái từ Babylon trở về quê hương đã là điều kỳ diệu, thì nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa còn làm những điều lạ lùng hơn nữa. Người phụ nữ ngoại tình bị lôi đến trước mặt Chúa Giêsu đã ở trong tình trạng tuyệt vọng. Đám đông sẵn sàng ném đá chị, các kinh sư và biệt phái dùng chị như cái bẫy để gài Đức Giêsu. Nhưng thay vì kết án, Chúa Giêsu đã cúi xuống, viết trên đất, rồi nói một lời khiến tất cả câm lặng: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Và từ người lớn tuổi nhất đến người trẻ nhất, từng người một bỏ đi. Đức Giêsu đã cứu chị phụ nữ không chỉ khỏi cái chết thể lý, mà còn khỏi sự hổ nhục, khỏi mặc cảm, và khỏi cái nhìn khắt khe của xã hội. Người đã khôi phục phẩm giá cho chị bằng một lời nói đầy lòng thương xót: “Tôi không lên án chị đâu. Chị hãy về, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

Chính nơi hành động tha thứ ấy, Đức Giêsu mạc khải cho nhân loại một sự thật kỳ diệu: Thiên Chúa không muốn kết án nhưng muốn cứu độ. Không ai có quyền tha tội ngoài Thiên Chúa. Vậy mà nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa đã trực tiếp tha tội, đã đụng chạm đến những tâm hồn tội lỗi và biến đổi họ. Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình chỉ là một ví dụ trong nhiều trường hợp khác: người phụ nữ tội lỗi lấy dầu thơm xức chân Chúa (Lc 7), người bại liệt được tha tội (Mc 2), và bao nhiêu con người tội lỗi khác đã được giải thoát nhờ lòng thương xót của Đức Kitô. Chính Người là hiện thân của Thiên Chúa giàu lòng xót thương.

Đức Giêsu không chỉ nói lời tha thứ. Người còn ban cho những ai đón nhận Người một sức sống mới, một khả năng đổi thay. Người phụ nữ ngoại tình bắt đầu một cuộc đời mới. Các kinh sư và biệt phái, dù chưa hoàn toàn hoán cải, cũng đã có lúc nhận ra sự thật về chính mình. Đó là điều kỳ diệu Thiên Chúa làm nơi Đức Giêsu: làm mới tâm hồn con người, giúp họ nhận biết chính mình, nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, và mở ra con đường trở về.

Sau khi Đức Giêsu phục sinh và lên trời, người ta không còn thấy Ngài bằng mắt thường nữa. Nhưng qua đức tin, người ta vẫn có thể gặp gỡ Ngài. Thánh Phaolô là minh chứng sống động cho cuộc gặp gỡ này. Trên đường đi Đamát, khi đang say mê bắt bớ các Kitô hữu, ông đã gặp Đức Giêsu Phục Sinh, và cuộc đời ông thay đổi hoàn toàn. Ông đã viết: “Tôi coi tất cả mọi sự như rơm rác để được biết Đức Giêsu Kitô.” Đối với Phaolô, Đức Giêsu là tất cả, là trung tâm cuộc đời, là nguồn sức mạnh, là lý do để sống và chết. Không phải nhờ lề luật mà Phaolô được công chính hóa, mà là nhờ đức tin vào Đức Kitô.

Chính kinh nghiệm đức tin này đã khiến Phaolô khẳng định mạnh mẽ: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.” Ông hiểu rằng, ai thật sự gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh thì không thể sống như trước nữa. Họ sẽ có một cái nhìn mới, một hướng đi mới, và một nguồn động lực mới. Họ sẽ sống không còn vì mình, mà vì Đấng đã yêu thương và hiến mạng vì mình. Đó là điều mà mùa Chay mời gọi mỗi chúng ta: hoán cải, sám hối, thay đổi cái nhìn, canh tân đời sống nhờ gặp gỡ Đức Kitô.

Sám hối không phải là chỉ ăn năn vì lỗi lầm, mà là một cuộc hoán cải toàn diện: nhận biết sự thật về chính mình, mở lòng ra với Thiên Chúa, đón nhận tha nhân và đổi mới cách sống. Sám hối là làm mới lại tâm hồn, là để Thiên Chúa tạo dựng lại chúng ta trong Đức Giêsu. Điều này không dễ, bởi nó đòi hỏi chúng ta từ bỏ những điều xưa cũ, vượt qua cái tôi ích kỷ, chấp nhận sự thật về mình. Nhưng cũng chính trong sự yếu đuối và giới hạn ấy, Thiên Chúa lại làm nên điều kỳ diệu. Vì Ngài là Đấng “làm cho sa mạc hóa thành dòng sông”, thì Ngài cũng có thể biến một tâm hồn khô cằn thành vườn cây xanh tươi tràn đầy sức sống.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì những điều kỳ diệu Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, và vẫn đang tiếp tục làm trong cuộc sống chúng con hôm nay. Xin cho chúng con biết mở lòng ra để gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, biết nhận ra lòng thương xót của Chúa nơi mỗi biến cố, mỗi con người, và mỗi giây phút của đời sống. Xin cho chúng con can đảm sám hối, dám thay đổi, dám bước theo Chúa và sống đời Kitô hữu đích thực, trong đức tin, đức cậy và đức mến. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

THA THỨ LÀ ĐIỂM KHỞI ĐẦU CỦA TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC

Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã nghe Tin Mừng kể lại câu chuyện đứa con hoang đàng – một người con trai hư hỏng, bỏ nhà ra đi, tiêu tán tài sản, làm khổ cha mẹ. Nghe bài đó, chắc nhiều bà mẹ thầm nghĩ: “Đúng là chỉ có mấy thằng con trai mới sinh tật gây chuyện!” Thế rồi hôm nay, đến lượt các bà phải giật mình khi nghe Tin Mừng Gioan kể lại chuyện một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Thì ra, không chỉ đàn ông đi hoang, mà phụ nữ cũng có thể lạc lối, cũng có thể gây đau khổ. Nhưng quan trọng hơn hết, điều mà Chúa Giêsu muốn mạc khải trong cả hai câu chuyện, là lòng thương xót của Thiên Chúa, là sự tha thứ khai mở một hành trình mới, chứ không phải sự xét đoán kết liễu một cuộc đời.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay mở ra trong khung cảnh Đức Giêsu đang giảng dạy trong Đền Thờ. Người là ánh sáng chân lý, là Đấng Cứu Độ đang dạy dân chúng về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Thế mà giữa khung cảnh thánh thiêng ấy, các kinh sư và người Pharisêu lại chen ngang bằng một cảnh tượng phũ phàng: họ lôi đến một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và đặt cô trước mặt Đức Giêsu, giữa đám đông, để đòi xét xử. Họ tưởng rằng họ đã có một cái bẫy hoàn hảo: nếu Chúa Giêsu tha, họ sẽ tố cáo Người là kẻ chống lại Luật Môsê; nếu Người đồng ý ném đá, thì Người không còn khác gì họ – một kẻ cứng rắn và lạnh lùng. Nhưng họ quên mất một điều quan trọng: Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, chứ không phải quan tòa của con người.

Trước sự giận dữ của đám đông và sự trịch thượng của các kinh sư, Chúa Giêsu cúi mình viết trên đất. Một hành động lạ lùng, thinh lặng và đầy ẩn ý. Người không vội lên tiếng. Người cho họ một khoảng lặng để suy nghĩ. Và rồi, Người nói một câu bất hủ: “Ai trong các ông sạch tội, thì hãy ném đá chị này trước đi.” Câu nói ấy không chỉ đánh tan sự hăng máu, mà còn soi sáng từng tâm hồn. Nó không chỉ đảo ngược tình thế, mà còn vạch trần bản chất thật sự của sự xét đoán: nó thường đến từ những người chưa từng nhìn lại chính mình. Và thế là, từng người, từ già đến trẻ, âm thầm rút lui. Còn lại chỉ là Đức Giêsu và người phụ nữ tội lỗi – hai con người, một bên là Đấng thánh, một bên là kẻ lầm lạc, nhưng ở giữa họ không phải là án phạt, mà là lòng thương xót.

Thưa cộng đoàn, người phụ nữ kia đã phạm tội thật, không ai chối cãi. Nhưng tội của chị không nguy hiểm bằng sự cứng lòng, sự giả hình, sự lên án của những người tưởng mình công chính. Chị đứng đó, run rẩy, im lặng, chờ đợi bản án. Nhưng thay vì kết tội, Đức Giêsu nói: “Tôi cũng không kết án chị đâu. Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Một lời tha thứ hoàn toàn, không kèm theo điều kiện, nhưng lại mở ra một lời mời gọi: hoán cải. Đức Giêsu không chối bỏ tội lỗi, nhưng Người không dừng lại ở đó. Người không đào sâu quá khứ, mà mở ra tương lai. Người không xét đoán, nhưng trao ban cơ hội để sống tốt hơn.

Câu chuyện ấy, xét cho cùng, cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta – nhất là trong đời sống gia đình, nơi mà tình yêu và tha thứ luôn phải song hành. Có lần kia, một người vợ nói trong nước mắt: “Chồng con không bao giờ đánh chửi con, nhưng cái làm con đau khổ nhất là anh ấy im lặng. Có chuyện gì không hài lòng, là anh ấy làm thinh cả tuần. Con không chịu nổi sự lạnh lùng đó.” Và quả thật, sự kết án nặng nề nhất trong gia đình, không phải là tiếng quát, mà là sự lặng im đóng kín, là ánh mắt hờn giận, là cái quay lưng không nói gì.

Có một câu chuyện con vẫn thường nhắc trong các buổi gặp gỡ: Một đôi vợ chồng giận nhau, định viết ra giấy lỗi của nhau để cùng sửa. Người chồng hí hửng liệt kê đủ thứ lỗi của vợ. Nhưng khi anh mở tờ giấy của vợ ra đọc, chỉ thấy vỏn vẹn một dòng: “Em yêu anh và không hề nhớ lỗi của anh bao giờ.” Chỉ một câu ấy đủ làm tan chảy mọi giận hờn. Bởi vì, thưa anh chị em, tình yêu thật sự thì không giữ sự dữ, không nhớ lỗi lầm. Đó chính là tình yêu của Đức Kitô – tình yêu tha thứ.

Vấn đề của nhiều gia đình ngày nay không phải là thiếu hiểu biết hay thiếu điều kiện, mà là thiếu sự tha thứ. Họ không thể sống hạnh phúc không phải vì không còn yêu nhau, mà vì không còn biết cách tha thứ cho nhau như thuở ban đầu. Khi yêu nhau say đắm, người ta dễ bỏ qua cho nhau mọi chuyện. Nhưng khi tình yêu nhạt dần, lỗi nhỏ cũng bị phóng to. Rồi từ chỗ trách móc đến giận hờn, từ giận hờn đến im lặng, từ im lặng đến xa cách, và từ đó tan vỡ. Tha thứ là ngọn lửa giữ ấm gia đình. Không có tha thứ, tình yêu sẽ chết.

Chúa Giêsu hôm nay trao cho người phụ nữ một chìa khóa của hạnh phúc mới: “Hãy đi, và đừng phạm tội nữa.” Không phạm tội không có nghĩa là không bao giờ sai lầm, nhưng là biết hoán cải, biết đứng lên, biết bắt đầu lại bằng một tình yêu mới. Với anh chị em đang sống đời hôn nhân, lời mời gọi ấy thật rõ ràng: hãy biết tha thứ cho nhau, đừng nhớ lỗi cũ, hãy xây lại tình yêu bằng sự khiêm nhường và lòng khoan dung.

Và với tất cả chúng ta – không chỉ người sống đời vợ chồng – thì lời mời gọi của Chúa là: hãy lãnh nhận Bí tích Giải Tội trong Mùa Chay. Đó là nơi ta đứng trước mặt Chúa, không phải để bị kết án, mà để được chữa lành. Bí tích Giải Tội không dành cho người hoàn hảo, nhưng là phương dược cho người tội lỗi biết ăn năn. Đừng ngại đến với tòa giải tội. Đừng sợ bị phơi bày. Chúa Giêsu không kết án ai bao giờ. Người chỉ muốn ta đừng sống trong tội nữa, để tình yêu của Người có thể tràn vào đời ta.

Kính thưa ông bà anh chị em, khi Mùa Chay tiến dần về Tuần Thánh, Hội Thánh mời gọi chúng ta canh tân tâm hồn, hoán cải đời sống, và nhất là học lại cách yêu thương như Chúa yêu – một tình yêu biết quên lỗi cũ, một tình yêu có đủ sức vực dậy kẻ sa ngã. Xin Chúa cho mỗi người trong họ đạo chúng ta đón nhận Bí tích Hòa Giải một cách sốt sắng, và nhờ ơn tha thứ của Chúa, biết tha thứ cho nhau trong gia đình, trong cộng đoàn và trong xã hội. Hãy mang trong lòng mình câu nói tuyệt đẹp: “Em yêu anh và không hề nhớ lỗi của anh bao giờ” – vì đó chính là điều Chúa Giêsu nói với mỗi chúng ta khi chúng ta đến tòa giải tội: “Ta yêu con, và Ta không hề nhớ lỗi của con nữa.”

Xin Chúa Giêsu, Đấng luôn tha thứ và không kết án, ban cho tất cả chúng ta một Mùa Chay thật ơn thánh, và một tình yêu đủ lớn để bắt đầu lại với nhau – mỗi ngày. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

THA THỨ ĐỂ CỨU SỐNG, CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỂ KẾT ÁN

Trong đời sống đức tin, không gì gây ấn tượng mạnh bằng sự thinh lặng của Chúa Giêsu trước những tiếng la ó đòi kết án, không gì làm lay động con tim tội lỗi bằng ánh mắt tha thứ thay vì cái nhìn kết tội, và cũng không gì mạnh bằng một lời nhẹ nhàng nhưng đầy quyền năng: “Tôi không kết án chị. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa.” Câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình là một trong những trình thuật đẹp nhất của Tin Mừng Gioan, nơi mà lòng thương xót và công lý gặp nhau trong con người Chúa Giêsu.

Chúng ta bắt đầu với bối cảnh xã hội và tôn giáo của người Do Thái. Đó là một dân tộc yêu mến Lề Luật, và họ tin rằng người công chính là người tuân giữ mọi điều luật Maisen. Việc sống theo luật tự nó là điều tốt lành, nếu được thực hiện với lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng điều đáng buồn là nhiều người, đặc biệt là giới biệt phái, không dừng lại ở đó. Họ vênh vang vì mình giữ luật giỏi, rồi lấy đó làm thước đo để xét đoán người khác. Họ tự cho mình là “cảnh sát tôn giáo,” là những kẻ có sứ mạng bắt lỗi, rình mò, tố cáo, và nếu được – thì kết án không chút xót thương.

Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình là một nạn nhân của cả hệ thống tôn giáo và xã hội lúc bấy giờ. Bà không chỉ là người phạm luật, mà còn là công cụ bị đem ra để gài bẫy chính Chúa Giêsu. Họ không thực sự quan tâm đến tội lỗi của người phụ nữ, cũng chẳng bận tâm đến sự công chính. Họ chỉ muốn gài Chúa Giêsu vào thế khó xử: nếu Ngài bảo ném đá theo Luật Maisen, thì họ sẽ tố cáo Ngài với chính quyền Rôma vì Ngài dám tự ý xử tử. Còn nếu Ngài bảo tha, thì họ sẽ nói Ngài coi thường Lề Luật. Cái ác của họ không chỉ là kết án, mà là biến con người – đặc biệt là người phụ nữ yếu đuối – thành công cụ chính trị, công cụ tôn giáo.

Chúa Giêsu không trả lời ngay. Ngài cúi xuống viết gì đó trên mặt đất. Một cử chỉ rất lạ lùng. Có người cho rằng Ngài viết ra các tội lỗi của những người đang cầm đá. Có người lại nói Ngài chỉ muốn làm lắng dịu bầu khí căng thẳng. Nhưng điều rõ ràng nhất là: Chúa Giêsu đã không vội vàng kết án. Ngài để sự thật có thời gian lên tiếng.

Rồi Ngài ngẩng lên và nói một câu ngắn gọn nhưng đầy sức mạnh: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Một lời mời gọi nhìn lại chính mình. Một câu hỏi xoáy sâu vào lương tâm từng người. Và rồi, từng người một, từ lớn đến nhỏ, âm thầm rút lui. Họ bị lột trần sự giả hình, sự tự mãn, sự gian dối che giấu dưới lớp áo đạo đức. Họ ra về không phải vì hối cải, mà vì không thể đối diện với sự thật: họ cũng là tội nhân.

Giờ đây, chỉ còn lại hai người: một người nữ tội lỗi và một Đấng Thánh. Một người đáng bị xét xử, và một Đấng có quyền xét xử. Nhưng Chúa Giêsu đã không lên án bà. Ngài không nói bà vô tội. Ngài cũng không bỏ qua tội lỗi. Nhưng Ngài nhìn bà với ánh mắt của Đấng Cứu Độ. Ngài nhìn thấy trong người phụ nữ ấy một con người bị thương tổn, một tâm hồn đang run rẩy trước cái chết, một trái tim có thể được chữa lành nếu được yêu thương.

Ngài nói: “Tôi cũng không kết án chị. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa.” Một lời tha thứ đi đôi với lời mời gọi hoán cải. Tha thứ không có nghĩa là dung túng. Nhưng là mở ra một con đường sống mới. Chúa Giêsu không quan tâm đến quá khứ tội lỗi, Ngài quan tâm đến tương lai được đổi mới.

Câu chuyện này chạm đến tận đáy tâm hồn mỗi chúng ta. Bởi vì, trong một mức độ nào đó, mỗi người chúng ta đều giống người phụ nữ kia. Có thể không phải là ngoại tình thể lý, nhưng chúng ta ngoại tình trong lòng: ngoại tình với lòng trung thành, với ơn gọi, với lương tâm, với trách nhiệm. Chúng ta phản bội Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói, hành động. Và chúng ta cũng giống những biệt phái khi nhanh chóng lên án người khác, kết tội tha nhân, trong khi bản thân còn đầy vết nhơ. Ta quên rằng chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng Thánh, còn chúng ta đều là kẻ cần được cứu độ.

Thái độ của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta suy nghĩ lại cách sống đức tin. Có lẽ đã đến lúc ta cần đặt lại câu hỏi: tôi sống đạo như thế nào? Tôi có lấy đức tin ra làm gậy để đánh người khác không? Tôi có sẵn sàng tha thứ và tạo cơ hội cho người khác đứng dậy không? Tôi có tin vào lòng thương xót Chúa như chính Chúa dạy, hay tôi sống đạo như một bản án treo lơ lửng trên đầu tha nhân?

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cũng là bài học quý giá cho đời sống gia đình. Bao nhiêu lần vợ chồng làm tổn thương nhau, nhưng thay vì tha thứ, lại chọn kết án? Bao nhiêu lần cha mẹ trừng phạt con cái, không phải để dạy dỗ, mà để trả đũa? Bao nhiêu lần trong các cộng đoàn, người này xét đoán người kia, chỉ vì một lỗi nhỏ, mà quên rằng Chúa đã từng tha cho mình những lỗi rất lớn? Nếu chúng ta không học lấy ánh mắt của Chúa Giêsu, không tập sống lòng thương xót, thì cộng đoàn và gia đình sẽ không khác gì phiên tòa hôm ấy – đầy tiếng la ó mà thiếu tình thương.

Trong Mùa Chay, Hội Thánh kêu gọi chúng ta trở về với Chúa, không phải trong sợ hãi, mà trong tin tưởng vào lòng thương xót. Bí tích Hòa Giải không phải là nơi để ta bị kết án, mà là nơi để được chữa lành. Khi xưng tội, ta không phải đến trình diện một quan tòa, mà là gặp gỡ một người Cha. Và nơi tòa giải tội, Chúa Giêsu vẫn đang nói với mỗi người: “Ta không kết án con. Hãy về và đừng phạm tội nữa.”

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì lòng thương xót của Ngài lớn hơn tội lỗi của con. Xin dạy con biết nhìn người khác bằng ánh mắt của Ngài. Xin đừng để con sống đạo như những người biệt phái đầy thành kiến và cứng lòng. Xin cho con biết tha thứ, như Ngài đã tha thứ cho con. Xin cho con biết đón nhận những người yếu đuối, thay vì kết án họ. Và xin cho con biết trở về với Chúa mỗi ngày trong khiêm tốn và tin yêu. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

TÌNH THƯƠNG MẠNH HƠN ÁN PHẠT: CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH

Câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình trong bài Tin Mừng hôm nay khơi dậy trong chúng ta một tâm tình sám hối sâu xa, trước lòng khoan dung và nhân hậu vô bờ của Thiên Chúa. Trong khung cảnh linh thiêng của Đền thờ, nơi tưởng rằng chỉ có lời kinh và lòng mộ đạo, thì bỗng nhiên bầu khí trở nên căng thẳng bởi một vụ tố cáo: một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị lôi đến trước mặt Đức Giêsu. Các kinh sư và biệt phái nhân cơ hội ấy để thử thách Chúa, tìm dịp để tố cáo Người. Họ hỏi: “Theo luật Môsê, người đàn bà này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”

Chúa Giêsu không vội trả lời. Người cúi xuống, viết trên cát. Cử chỉ ấy đầy ý nghĩa: Người không muốn vội vàng xét đoán. Người mời gọi sự im lặng nội tâm để suy xét, để lắng nghe lương tâm. Nhưng họ cứ một mực hỏi mãi, buộc Người phải lên tiếng. Câu trả lời của Đức Giêsu vang vọng như một bản án công bằng dành cho mọi thời đại: “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi.” Một câu nói vừa khôn ngoan, vừa công bằng, lại đầy nhân ái. Người không phủ nhận luật Môsê, nhưng mời gọi người ta đi xa hơn luật: đi vào cõi lòng, đến với lương tâm, nơi Thiên Chúa cư ngụ. Ở đó, công lý thật không bao giờ tách rời tình yêu thương.

Câu nói của Chúa đã đánh trúng vào nơi sâu thẳm nhất của con người. Ai có thể vỗ ngực xưng mình vô tội? Những kẻ đến tố cáo chị phụ nữ kia, tưởng chừng đang đứng trên cao để thi hành công lý, giờ đây bị lột trần lương tâm. Họ bắt đầu rút lui, từng người một, từ người lớn tuổi nhất – có lẽ vì họ ý thức rõ hơn về gánh nặng tội lỗi của mình. Và cuối cùng, chỉ còn lại hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ. Thánh Augustinô đã nói một cách sâu sắc: “Chỉ còn lại tình thương và tội lỗi.” Một bên là Đấng Thánh – trong sạch tuyệt đối; một bên là tội nhân – bị xã hội khinh miệt. Nhưng điều kỳ diệu là: chính Đấng Thánh đã không kết án, mà lại tha thứ. Chính tình thương đã mạnh hơn mọi án phạt.

Chúa Giêsu không nói: “Chị không có tội.” Nhưng Người nói: “Tôi không kết án chị. Hãy về và đừng phạm tội nữa.” Tha thứ không phải là làm ngơ trước sự dữ, cũng không phải là chối bỏ tội lỗi. Tha thứ là mở ra một con đường mới, một khởi đầu mới. Tha thứ là nâng dậy kẻ sa ngã, khơi dậy nơi họ niềm hy vọng và khả năng làm lại cuộc đời. Chúa Giêsu đã ghét tội, nhưng yêu thương kẻ có tội. Người không đồng hóa tội lỗi với con người, vì với Người, con người – dù tội lỗi – vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa và vẫn có thể được phục hồi qua tình yêu.

Câu chuyện này khiến chúng ta suy nghĩ về chính mình. Biết bao lần chúng ta đã giống như những người biệt phái, chỉ chăm chăm nhìn thấy lỗi người khác mà quên mất lỗi của mình. Có lần Đức Giêsu đã dùng một hình ảnh sống động: “Tại sao ngươi thấy cái rác trong mắt anh em, mà cái xà trong mắt ngươi thì lại không thấy?” Chúng ta sống như thể đang đeo hai cái giỏ: một cái trước ngực để đựng lỗi người khác – và luôn nhìn thấy rõ; một cái sau lưng để chứa lỗi của chính mình – nên không bao giờ nhận ra. Đức tin không cho phép chúng ta sống như vậy.

Chúa Giêsu dạy: “Các con đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho các con bằng đấu ấy.” Nếu ta muốn được tha thứ, hãy học cách tha thứ. Nếu ta mong được khoan dung, hãy mở lòng khoan dung với người khác. Không ai là hoàn hảo. Ai cũng cần đến lòng thương xót. Và không ai có quyền đứng ở vị trí quan toà để kết án anh chị em mình. Đừng vội vàng gán nhãn, đừng khắt khe buộc tội. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, để hiểu và cảm thông.

Đồng thời, câu chuyện người phụ nữ ngoại tình còn là một lời mời gọi hoán cải. Tình thương của Chúa không phải là sự nuông chiều. Tha thứ không có nghĩa là dung túng. Khi Chúa nói: “Đừng phạm tội nữa”, Người đặt trên vai người phụ nữ một trách nhiệm: phải thay đổi, phải sống xứng đáng với tình thương mình đã nhận được. Ơn tha thứ là khởi đầu cho một cuộc sống mới, chứ không phải là một cái cớ để tiếp tục sống trong tội lỗi. Mỗi người chúng ta cũng vậy: khi đến với Bí tích Hòa Giải, ta được tha thứ, nhưng cũng được mời gọi hoán cải.

Mùa Chay là mùa của lòng thương xót. Nhưng cũng là mùa của sự thật. Hãy can đảm nhìn nhận tội lỗi của mình. Hãy ngước nhìn Chúa để xin được tha thứ. Hãy đến với Chúa như người phụ nữ nọ – không biện minh, không chối cãi, chỉ xin một ánh mắt nhân từ. Và chắc chắn, Chúa sẽ không khước từ. Chúa sẽ nói với chúng ta: “Ta không kết án con. Hãy về và đừng phạm tội nữa.”

Giáo hội không ngừng nhắc nhở con cái mình về giá trị của lòng sám hối. Đó không chỉ là việc cúi đầu thú nhận tội lỗi, nhưng là một hành trình trở về với Thiên Chúa Tình Yêu. Tình yêu ấy không làm nhục, không hạ bệ, nhưng nâng lên và phục hồi phẩm giá. Giáo hội cũng kêu gọi mỗi Kitô hữu hãy mang trong mình tâm tình của Đức Kitô: đừng xét đoán, đừng lên án, nhưng hãy cảm thông, tha thứ và đồng hành.

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy những phán xét vội vàng. Mạng xã hội khiến người ta dễ dàng kết tội nhau chỉ qua vài dòng tin. Người ta quên mất rằng mỗi con người là một câu chuyện, là một hành trình với bao yếu đuối. Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình mời gọi chúng ta bước ra khỏi lối xét đoán cứng nhắc, để bước vào cái nhìn của lòng nhân hậu. Đừng là người cầm đá ném. Hãy là người lắng nghe. Đừng là người kết án. Hãy là người đồng hành.

Ước gì trong mùa Chay này, mỗi người chúng ta đều cảm nghiệm sâu xa lòng thương xót của Chúa. Ước gì chúng ta dám mở lòng để tha thứ cho những ai đã làm tổn thương mình. Ước gì chúng ta biết ngừng lại trước khi phán xét, và học cách nhìn người khác bằng cái nhìn của Chúa Giêsu: cái nhìn không dừng lại nơi tội lỗi, nhưng hướng tới khả năng phục hồi và hoán cải. Và trên hết, ước gì chúng ta biết sống như Chúa: ghét tội, nhưng yêu người có tội. Đó là tinh thần Mùa Chay, là con đường của Tin Mừng, là dấu chỉ của Nước Trời đã đến giữa trần gian.

Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA KHÔNG LÊN ÁN, NHƯNG MÀ CỨU ĐỘ

Trong suốt Mùa Chay thánh, chúng ta thường nghe lời Chúa trong sách ngôn sứ Êdêkien: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn và được sống” (Ed 33,11). Lời này là một lời tuyên ngôn tệ đời, diễn tả tình thương xót sâu xa của Thiên Chúa. Ngược lại, con người thường dễ kết án nhau, thường hay đổ lỗi để tìm cách trừng phạt và loại trừ.

Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 8,1-11) cho chúng ta một hình ảnh đối lập mãnh liệt: con người đem nhau ra để kết án tử hình, còn Thiên Chúa thì cứu sống. Trong vụ việc người Phái Đạo và kinh sư dắt một phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình đến trước Chúa Giêsu, họ tường nêu lên lời của luật Môsê: “Phải ném đá hạng đàn bà như thế”. Nhưng họ đâu phải thành tâm giữ luật, họ muốn gài bẫy Chúa, muốn chọn lấy lỗ hở cho Người.

Người ta hăng hái xử tử. Các thống kê cho thấy phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn duy trì án tử hình. Dù một số quốc gia đã bãi bỏ, nhưng đôi khi việc bãi bỏ đó không xuất phát từ lòng xót thương, mà từ độ hiệu quả răn đe không cao. Thật ra, án tử hình nhiều khi chỉ là một cách trả thù, “ác báo ác”, “mắt đền mắt, răng đền răng”.

Chúa Giêsu, trái ngược hoàn toàn với dã tâm của họ, đã bắt đầu hành động khác thường: Người cách lặng, viết trên đất. Rồi Người ngó lên và nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Và kỳ lạ, từ người lớn tuổi đến người nhỏ, tất cả đều rời đi, để lại một mình người phụ nữ trước mặt Chúa.

Trong khoảnh khắc đó, Thiên Chúa đã bỏ phiếu chống án tử hình. Chúa đã chọn tha thứ, chọn cứu sống, chọn trao đi hy vọng. Câu nói “Tôi cũng không kết án chị đâu. Thôi chị về và từ nay đừng phạm tội nữa” đã trở thành tới điểm cao nhất của lời rao giảng Tin Mừng: Thiên Chúa không đến để kết án, mà để cứu sống.

Giờ đây là thời điểm chúng ta hình dung mình trong hình ảnh người phụ nữ đó. Có thể chúng ta chưa bị đem ra công khai để ném đá, nhưng đã bao nhiêu lần chúng ta dùng lời nói, ánh nhìn, đồn đoán để lên án nhau? Bao nhiêu lần ta chỉ trích thay vì xóa di? Bao nhiêu lần ta kín đáo cựa lòng mình trước sự đau của tha nhân? Bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi chúng ta hoán cải: để bỏ đi điều ác và hành động như Chúa Giêsu: tha thứ, nâng đỡ, trao hy vọng.

Chúa đã mở ra một con đường giải thoát, như Thiên Chúa ngày xưa đã mở biển đỏ cho Israel đi qua. Chúa đã khai một dòng sông giữa sa mạc tâm hồn, tưới mát sự khát khao được yêu thương và được tha thứ. Cuộc đời người phụ nữ đã được thay đổi, trở nên khôn ngoan, can đảm và đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô.

Lòng thương xót của Chúa không chỉ đối với người đàn bà trong Tin Mừng, mà đối với mỗi chúng ta hôm nay. Chúa không muốn chúng ta chết trong tội, nhưng muốn chúng ta sống và sống dồi dào. Sự sống đó không phải chỉ là không bị ném đá, mà là được thánh hóa, được đổi mới từ trong cơn đau của sự thân phận.

Mùa Chay mời gọi ta hoán cải, trở về với Thiên Chúa tình yêu. Hãy đến tòa giải tội để được nghe lời đức nhân: “Tôi cũng không kết án con”. Hãy thảo gỡ gánh nặng thù hận, bê bối, tự mãn, để được tự do của các con cái ánh sáng. Hãy đếm lại cho nhau niềm hy vọng và cơ hội để đổi mới.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã không kết án một người tội lỗi, mà đã nhìn hòa và tha thứ cho hết thảy. Xin cho con biết bỏ đi ý riêng và định kiến, biết nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương và lòng xót thương. Xin cho chúng con cũng biết tha thứ như Chúa đã tha thứ cho chúng con. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA LÀM MỘT ĐIỀU MỚI GIỮA CHÚNG TA TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Khi người Do Thái đang bị lưu đày tại Babylon, ai trong họ dám nghĩ rằng có ngày họ được trở về quê cha đất tổ? Ngay cả khi còn quyền lực và độc lập còn chưa giữ được đất nước quê hương, còn chưa bảo vệ được mình, thì làm sao một khi đã bị lưu đày sang nơi đất khách quê người lại có thể nổi dậy và trở về quê hương, trừ phi Thiên Chúa can thiệp làm những việc kinh thiên động địa như Ngài đã làm cho dân Do Thái thời ở Ai Cập qua Môsê.

Sách tiên tri Isaia cho dân một niềm hy vọng. Thiên Chúa phán: “Ta sẽ cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát”. Thiên Chúa thỏa mãn khao khát của dân Ngài. Ngài đã đưa dân Do Thái đang lưu đầy ở Babylon được trở về quê cha đất tổ qua vua Kyrô, một vua người Ba Tư đã chiến thắng và đang nắm quyền trên khắp vùng. Kyrô, một vua người ngoại, nhưng đã được coi là Đấng Kitô của Thiên Chúa (Is 45,1). Một người ngoại được coi là Đấng Kitô, là một điều người Do Thái không bao giờ ngờ tới. Như vậy, hoặc Thiên Chúa đã dùng một người ngoại để giải phóng dân của Ngài, hoặc người ngoại không phải là người ngoại trước mặt Thiên Chúa. Người ngoại vẫn là con dân của Thiên Chúa như người Do Thái, và họ đã được Thiên Chúa yêu và dùng như Ngài đã yêu thương người Do Thái vậy.

Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa còn làm những điều kỳ diệu hơn tất cả những điều Ngài đã làm từ trước tới nay. Tin Mừng Chúa Nhật thứ năm Mùa Chay cho thấy Đức Giêsu đã làm một điều đặc biệt: Ngài cứu người phụ nữ ngoại tình thoát chết và làm cho những người biệt phái cùng kinh sư trở nên khiêm tốn và nhận biết mình có tội. Khi những người biệt phái và kinh sư bỏ đi không ném đá chị phụ nữ ngoại tình nữa, hàm chứa họ đã được ơn nhận biết chính mình. Đức Giêsu nói với chị phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Một cuộc đời mới đã khai mở với chị phụ nữ phạm tội ngoại tình. Chị tạ ơn Thiên Chúa đã cứu sống chị qua Đức Giêsu; chị bắt đầu một đời sống mới trong niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người. Một khi gặp gỡ được Thiên Chúa, người ta trở nên nhân hậu hơn, chấp nhận chính mình và tha nhân hơn, tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình.

“Không ai có quyền tha tội trừ một Thiên Chúa” (Mc 2,7). Thiên Chúa đã dùng Đức Giêsu để tha tội cho người bị bại liệt. Đức Giêsu đã tha tội cho chị phụ nữ ăn năn sám hối (Lc 7,34). Đức Giêsu cũng không kết án chị phụ nữ ngoại tình (Ga 8,11). Thiên Chúa không chỉ không kết án, mà còn tha tội cho con người qua Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể giao hòa con người với Thiên Chúa, nếu không phải là chính Thiên Chúa muốn giao hòa với con người. Thiên Chúa đã giao hòa với con người, nhờ và qua Đức Giêsu Kitô. Tạ ơn Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu cho con người. Thiên Chúa đang làm điều mới qua Đức Giêsu Kitô.

Con người ngày nay không thể gặp gỡ Đức Giêsu vì Ngài đã lên trời, tuy nhiên nhờ đức tin con người vẫn có thể gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh. Thánh Phaolô đã được biến đổi hoàn toàn nhờ biết Đức Giêsu Phục Sinh. “Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Phục Sinh”. Phaolô sẵn sàng mất tất cả để chỉ được Ngài mà thôi. Phaolô đã có cái nhìn khác về vạn sự vạn vật. Ngày xưa, Phaolô miệt mài đi bắt bớ các Kitô hữu, tưởng rằng như thế là làm vinh danh Thiên Chúa, nhưng biến cố trên đường Đamát đã giúp Phaolô nhận ra sự thật. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đã làm cho Phaolô thành con người mới, thành người công chính không cậy dựa vào sức riêng mình nhằm chu toàn lề luật nhưng nhờ đức tin vào Đức Giêsu Kitô.

Với Phaolô, Thiên Chúa là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã làm tất cả trong Đức Giêsu: Ngài tái tạo mọi sự, đưa mọi sự tới với Thiên Chúa. Lề luật không giúp người ta tới gần Thiên Chúa nhưng chỉ giúp con người nhận biết mình là tội nhân; chính niềm tin vào Đức Giêsu mới cho con người có nhận thức đúng đắn hơn về mọi sự, mới cho con người có sức sống, mới giúp con người thực hiện được điều mình thấy đúng, mới làm con người được hạnh phúc. Nhận thức rõ Thiên Chúa làm tất cả trong Đức Giêsu Phục Sinh, Phaolô đã miệt mài rao giảng Tin Mừng: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Đức Giêsu Phục Sinh thật sự là Tin Mừng cho tất cả mọi người. Tin nhận Đức Giêsu Phục Sinh, là tin Thiên Chúa đang hoạt động và yêu thương con người vô cùng, là có thể phó thác trọn vẹn đời mình trong tay Thiên Chúa tình yêu, là có thể sống an bình hạnh phúc.

Tâm tình của Kitô hữu là tạ ơn Thiên Chúa đã cho được nhận biết Đức Giêsu Phục Sinh. Tín hữu nhìn lên Đức Giêsu để dõi bước theo Ngài. Ngài đã sống thế nào, Kitô hữu được mời gọi để sống như vậy. Trong Mùa Chay, Kitô hữu được mời gọi để sám hối. Sám hối là nhận biết chính mình cách thật sự, là nhận biết mình có lỗi lầm và mong ước quay về với Thiên Chúa, làm hòa với anh chị em mình. Sám hối đòi người ta phải có cái nhìn mới về Thiên Chúa, về tha nhân, về chính mình và về sự vật. Thật không dễ để thay đổi chính mình, thay đổi cái nhìn của mình, quan điểm và chọn lựa của mình; nhưng Thiên Chúa là Đấng có thể làm mọi sự. Không gì mà Thiên Chúa không làm được. Ngài đã giúp những kinh sư và biệt phái muốn ném đá chị phụ nữ ngoại tình được nhận biết họ cũng là tội nhân, để họ thay đổi không còn kết án chị phụ nữ nữa. Thiên Chúa đã làm mới những người đến với Đức Giêsu, kể cả chị phụ nữ ngoại tình lẫn những kinh sư và biệt phái.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng ra để gặp gỡ Đức Giêsu Kitô – Đấng mà Chúa Cha đã sai đến để làm mới lại toàn thể nhân loại. Xin giúp con biết khiêm tốn đón nhận sự thật về mình, biết để cho Lời Chúa chạm đến tâm hồn, để con can đảm đứng dậy và bước theo Chúa mỗi ngày với một trái tim được canh tân trong tình yêu và niềm hy vọng. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

CÁI NHÌN CỦA THA THỨ: LỜI MỜI GỌI HOÁN CẢI TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Trong cuộc sống, chúng ta không thể phủ nhận rằng cái nhìn có sức ảnh hưởng sâu sắc đến con người. Cái nhìn của chúng ta có thể làm cho một người được hồi sinh, hay ngược lại, làm cho họ cảm thấy bị loại trừ, khinh miệt, thậm chí đánh mất hy vọng sống. Cái nhìn không chỉ là một ánh mắt, mà là cách chúng ta chọn để hiểu, để đánh giá, để đối xử với nhau. Và chính cái nhìn cũng phản ánh chiều sâu nội tâm và tâm hồn của ta: hẹp hòi hay rộng lượng, lạnh lùng hay nhân hậu, kết án hay tha thứ. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy ba cái nhìn rất khác nhau trước một con người phạm tội – người phụ nữ ngoại tình – và từ đó mời gọi chúng ta chọn lựa cái nhìn của Đức Giêsu: cái nhìn yêu thương, tha thứ, và mở ra con đường sống mới.

Trước hết là cái nhìn kết án, miệt thị – cái nhìn của những người Pharisêu và kinh sư. Những người này tự cho mình là công chính vì tuân giữ lề luật một cách hình thức. Đối với họ, lề luật là tuyệt đối. Nhưng họ quên rằng mục đích của lề luật là phục vụ con người, hướng dẫn và bảo vệ con người, chứ không phải là công cụ để kết án và tiêu diệt. Vì quá nệ vào hình thức, họ đã bóp méo tinh thần của luật, quên mất bản chất của Thiên Chúa là yêu thương và nhân hậu. Chính vì thế, họ không ngần ngại đưa người phụ nữ ngoại tình ra trước đám đông, làm nhục chị, biến chị thành một công cụ để gài bẫy Chúa Giêsu. Họ không thực sự quan tâm đến tội lỗi hay sự hoán cải của chị, mà chỉ tìm cách bắt lỗi, tố cáo và tiêu diệt cả tội nhân lẫn Đấng tha thứ.

Luật Maisen cho phép ném đá những kẻ phạm tội ngoại tình. Nhưng quyền xử tử vào thời Đức Giêsu đã thuộc về chính quyền Rôma. Như thế, nếu Đức Giêsu đồng ý ném đá chị, thì Ngài sẽ bị tố cáo vi phạm quyền lực của chính quyền Rôma. Ngược lại, nếu Ngài cấm ném đá, thì họ sẽ tố cáo Ngài chống lại Lề Luật Môsê. Trong cái bẫy khôn ngoan ấy, người phụ nữ chỉ là con mồi, là cái cớ để thực hiện một mục tiêu nham hiểm hơn: tiêu diệt Đức Giêsu – Đấng rao giảng lòng thương xót, làn gió mới giữa sa mạc khô cằn của lề luật hình thức. Đó là cái nhìn đầy dối trá, đạo đức giả và thiếu tình người – một cái nhìn vẫn còn hiện diện trong thế giới hôm nay, nơi người ta dễ dàng kết án, chụp mũ và hủy diệt người khác qua những lời nói, qua mạng xã hội, qua sự phán xét hẹp hòi không tình yêu.

Kế đến là cái nhìn tủi hổ – cái nhìn của chính người phụ nữ. Trước đám đông tố cáo, chị không thể ngẩng đầu lên. Chị gục đầu trong xấu hổ, trong nhục nhã và trong sợ hãi. Chị chờ đợi một bản án tử, có thể sẽ đến trong chốc lát. Không ai bênh vực chị. Có lẽ chị cũng không dám bênh vực chính mình. Những ánh mắt khinh bỉ, lạnh lùng của những người xung quanh như từng mũi dao xuyên vào tâm can chị. Có lẽ chị từng được yêu thương, từng hy vọng, nhưng giờ đây chỉ còn sự nhục nhã. Và biết đâu, chị cũng không còn yêu chính mình nữa. Cái nhìn của chị là cái nhìn của một người đã đánh mất phẩm giá, không còn tin vào chính mình, không còn hy vọng vào lòng người.

Cuối cùng – và cũng là điều quan trọng nhất – là cái nhìn của Đức Giêsu. Trong khi tất cả mọi người kết án, thì Ngài cúi xuống, viết gì đó trên đất. Một cử chỉ đầy biểu tượng. Ngài không phản ứng vội vàng. Ngài không tham gia vào đám đông cuồng nộ. Ngài chọn thinh lặng. Và trong sự thinh lặng ấy, Ngài tạo cơ hội cho những người tố cáo đối diện với chính mình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc ném đá chị này trước đi.” Một câu nói không chỉ bẻ gãy bẫy rập của các kinh sư, mà còn mời gọi lương tâm mỗi người lên tiếng. Thế là từng người một bỏ đi, bắt đầu từ những người lớn tuổi – có lẽ vì họ có nhiều kinh nghiệm với tội lỗi hơn ai hết.

Chỉ còn lại hai người – người phụ nữ tội lỗi và Đức Giêsu, Đấng Thánh thiện. Ngài là người duy nhất có quyền ném viên đá đầu tiên, vì Ngài vô tội. Nhưng Ngài đã không làm thế. Ngài nói: “Tôi cũng không lên án chị. Hãy về, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Một lời tha thứ, nhưng không dễ dãi. Một lời trao ban sự sống mới, nhưng không dung túng cho tội lỗi. Đức Giêsu tách biệt tội lỗi và tội nhân. Tội lỗi thì đáng ghét, cần loại trừ. Nhưng tội nhân thì đáng thương, cần được nâng dậy, được chữa lành. Ngài mở ra cho chị một con đường mới, một hành trình làm lại từ đầu, một tương lai hy vọng.

Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình là hình ảnh của mỗi người chúng ta. Chúng ta đều là tội nhân, đều có lúc gục đầu trong tủi hổ, trong sai lầm. Và cũng như chị, chúng ta có thể bị người khác xét đoán, bị kết án, bị loại trừ. Nhưng Đức Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngài vẫn luôn chờ đợi, tha thứ, và nói với chúng ta mỗi lần chúng ta quỵ ngã: “Ta không kết án con. Hãy đứng dậy và từ nay đừng phạm tội nữa.” Mùa Chay là thời gian thuận tiện để lắng nghe lời ấy một lần nữa, để đến với bí tích Hòa Giải – nơi Đức Giêsu không chờ để kết án, nhưng chờ để tha thứ. Nơi toà giải tội, chúng ta không gặp một vị quan toà khắt khe, nhưng gặp người Cha đầy lòng thương xót.

Người Kitô hữu là người bước theo Chúa Giêsu – không chỉ trong việc tin Ngài, mà còn trong cách sống như Ngài. Điều đó có nghĩa là chúng ta cũng được mời gọi nhìn tha nhân bằng cái nhìn của Chúa: cái nhìn không kết án, không lên án, nhưng cảm thông và tha thứ. Đừng ném đá người khác – bằng lời nói, bằng thái độ, bằng cái nhìn khinh bỉ. Hãy cho người khác cơ hội để sửa mình, để làm lại, như Chúa vẫn cho ta từng ngày. Đừng nhân danh đạo đức để kết án ai. Càng ý thức mình là tội nhân, ta càng dễ cảm thông và biết nâng đỡ người khác.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì lòng thương xót vô bờ của Ngài. Xin cho con luôn biết nhìn lại chính mình để không xét đoán ai. Xin cho con tin tưởng vào lòng tha thứ của Chúa để trở về, để đổi mới. Xin giúp con biết đón nhận tha nhân như Chúa đã đón nhận con. Xin cho con sống Mùa Chay này như một hành trình của hoán cải, của tha thứ và của tình yêu. Vì con tin rằng tình yêu Chúa vượt xa mọi lầm lỗi của con. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA LÀM MỘT ĐIỀU MỚI GIỮA CHÚNG TA TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Khi người Do Thái đang bị lưu đày tại Babylon, ai trong họ dám nghĩ rằng có ngày họ được trở về quê cha đất tổ? Ngay cả khi còn quyền lực và độc lập còn chưa giữ được đất nước quê hương, còn chưa bảo vệ được mình, thì làm sao một khi đã bị lưu đày sang nơi đất khách quê người lại có thể nổi dậy và trở về quê hương, trừ phi Thiên Chúa can thiệp làm những việc kinh thiên động địa như Ngài đã làm cho dân Do Thái thời ở Ai Cập qua Môsê.

Sách tiên tri Isaia cho dân một niềm hy vọng. Thiên Chúa phán: “Ta sẽ cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát”. Thiên Chúa thỏa mãn khao khát của dân Ngài. Ngài đã đưa dân Do Thái đang lưu đầy ở Babylon được trở về quê cha đất tổ qua vua Kyrô, một vua người Ba Tư đã chiến thắng và đang nắm quyền trên khắp vùng. Kyrô, một vua người ngoại, nhưng đã được coi là Đấng Kitô của Thiên Chúa (Is 45,1). Một người ngoại được coi là Đấng Kitô, là một điều người Do Thái không bao giờ ngờ tới. Như vậy, hoặc Thiên Chúa đã dùng một người ngoại để giải phóng dân của Ngài, hoặc người ngoại không phải là người ngoại trước mặt Thiên Chúa. Người ngoại vẫn là con dân của Thiên Chúa như người Do Thái, và họ đã được Thiên Chúa yêu và dùng như Ngài đã yêu thương người Do Thái vậy.

Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa còn làm những điều kỳ diệu hơn tất cả những điều Ngài đã làm từ trước tới nay. Tin Mừng Chúa Nhật thứ năm Mùa Chay cho thấy Đức Giêsu đã làm một điều đặc biệt: Ngài cứu người phụ nữ ngoại tình thoát chết và làm cho những người biệt phái cùng kinh sư trở nên khiêm tốn và nhận biết mình có tội. Khi những người biệt phái và kinh sư bỏ đi không ném đá chị phụ nữ ngoại tình nữa, hàm chứa họ đã được ơn nhận biết chính mình. Đức Giêsu nói với chị phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Một cuộc đời mới đã khai mở với chị phụ nữ phạm tội ngoại tình. Chị tạ ơn Thiên Chúa đã cứu sống chị qua Đức Giêsu; chị bắt đầu một đời sống mới trong niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người. Một khi gặp gỡ được Thiên Chúa, người ta trở nên nhân hậu hơn, chấp nhận chính mình và tha nhân hơn, tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình.

“Không ai có quyền tha tội trừ một Thiên Chúa” (Mc 2,7). Thiên Chúa đã dùng Đức Giêsu để tha tội cho người bị bại liệt. Đức Giêsu đã tha tội cho chị phụ nữ ăn năn sám hối (Lc 7,34). Đức Giêsu cũng không kết án chị phụ nữ ngoại tình (Ga 8,11). Thiên Chúa không chỉ không kết án, mà còn tha tội cho con người qua Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể giao hòa con người với Thiên Chúa, nếu không phải là chính Thiên Chúa muốn giao hòa với con người. Thiên Chúa đã giao hòa với con người, nhờ và qua Đức Giêsu Kitô. Tạ ơn Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu cho con người. Thiên Chúa đang làm điều mới qua Đức Giêsu Kitô.

Con người ngày nay không thể gặp gỡ Đức Giêsu vì Ngài đã lên trời, tuy nhiên nhờ đức tin con người vẫn có thể gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh. Thánh Phaolô đã được biến đổi hoàn toàn nhờ biết Đức Giêsu Phục Sinh. “Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Phục Sinh”. Phaolô sẵn sàng mất tất cả để chỉ được Ngài mà thôi. Phaolô đã có cái nhìn khác về vạn sự vạn vật. Ngày xưa, Phaolô miệt mài đi bắt bớ các Kitô hữu, tưởng rằng như thế là làm vinh danh Thiên Chúa, nhưng biến cố trên đường Đamát đã giúp Phaolô nhận ra sự thật. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đã làm cho Phaolô thành con người mới, thành người công chính không cậy dựa vào sức riêng mình nhằm chu toàn lề luật nhưng nhờ đức tin vào Đức Giêsu Kitô.

Với Phaolô, Thiên Chúa là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã làm tất cả trong Đức Giêsu: Ngài tái tạo mọi sự, đưa mọi sự tới với Thiên Chúa. Lề luật không giúp người ta tới gần Thiên Chúa nhưng chỉ giúp con người nhận biết mình là tội nhân; chính niềm tin vào Đức Giêsu mới cho con người có nhận thức đúng đắn hơn về mọi sự, mới cho con người có sức sống, mới giúp con người thực hiện được điều mình thấy đúng, mới làm con người được hạnh phúc. Nhận thức rõ Thiên Chúa làm tất cả trong Đức Giêsu Phục Sinh, Phaolô đã miệt mài rao giảng Tin Mừng: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Đức Giêsu Phục Sinh thật sự là Tin Mừng cho tất cả mọi người. Tin nhận Đức Giêsu Phục Sinh, là tin Thiên Chúa đang hoạt động và yêu thương con người vô cùng, là có thể phó thác trọn vẹn đời mình trong tay Thiên Chúa tình yêu, là có thể sống an bình hạnh phúc.

Tâm tình của Kitô hữu là tạ ơn Thiên Chúa đã cho được nhận biết Đức Giêsu Phục Sinh. Tín hữu nhìn lên Đức Giêsu để dõi bước theo Ngài. Ngài đã sống thế nào, Kitô hữu được mời gọi để sống như vậy. Trong Mùa Chay, Kitô hữu được mời gọi để sám hối. Sám hối là nhận biết chính mình cách thật sự, là nhận biết mình có lỗi lầm và mong ước quay về với Thiên Chúa, làm hòa với anh chị em mình. Sám hối đòi người ta phải có cái nhìn mới về Thiên Chúa, về tha nhân, về chính mình và về sự vật. Thật không dễ để thay đổi chính mình, thay đổi cái nhìn của mình, quan điểm và chọn lựa của mình; nhưng Thiên Chúa là Đấng có thể làm mọi sự. Không gì mà Thiên Chúa không làm được. Ngài đã giúp những kinh sư và biệt phái muốn ném đá chị phụ nữ ngoại tình được nhận biết họ cũng là tội nhân, để họ thay đổi không còn kết án chị phụ nữ nữa. Thiên Chúa đã làm mới những người đến với Đức Giêsu, kể cả chị phụ nữ ngoại tình lẫn những kinh sư và biệt phái.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng ra để gặp gỡ Đức Giêsu Kitô – Đấng mà Chúa Cha đã sai đến để làm mới lại toàn thể nhân loại. Xin giúp con biết khiêm tốn đón nhận sự thật về mình, biết để cho Lời Chúa chạm đến tâm hồn, để con can đảm đứng dậy và bước theo Chúa mỗi ngày với một trái tim được canh tân trong tình yêu và niềm hy vọng. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

LÒNG THƯƠNG XÓT MẠNH HƠN LUẬT PHẠT: NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH VÀ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

Câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trong Tin Mừng Gioan (Ga 8,1-11), theo các nhà nghiên cứu, có thể là phần thêm sau do Thánh Luca thuật lại – vị thánh sử đặc biệt đề cao chủ đề lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong văn chương, một chủ đề chính thường được tô đậm qua những yếu tố “phản đề”. Tương tự như thế, một cái nhìn cặn kẽ về sự gian ác, mưu mô của con người sẽ càng làm nổi bật hơn vẻ đẹp và sức mạnh của lòng từ bi nhân hậu nơi Thiên Chúa. Và điều đó được tỏ hiện trọn vẹn trong biến cố Chúa Giêsu đối diện với người phụ nữ ngoại tình.

Tội ngoại tình, thoạt nhìn, có vẻ là tội dễ được thông cảm, bởi con người vốn mỏng dòn và dễ sa ngã trong lãnh vực dục vọng. Người ta thường dùng cụm từ “tính xác thịt” như một cách để bào chữa. Nhưng nếu xét kỹ hơn, đây không chỉ là một sa ngã của thể lý, mà còn là sự phản bội trong tương quan hôn nhân, là sự phá vỡ sự tín nhiệm và lòng trung thành – những gì vốn là nền tảng thiêng liêng của đời sống gia đình. Khi nền tảng này rạn vỡ, thì không chỉ gia đình mà cả xã hội và Giáo Hội cũng bị chao đảo. Cũng như căn bệnh HIV/AIDS phá huỷ hệ miễn dịch nơi thân thể, thì sự bất trung phá huỷ khả năng kháng lại tội lỗi trong linh hồn và cộng đồng. Các ngôn sứ đã nhiều lần dùng hình ảnh “ngoại tình” để chỉ hành vi phản bội Giao ước của dân Chúa khi chạy theo các thần ngoại bang.

Thế nhưng, câu chuyện trong Tin Mừng không chỉ nói về tội ngoại tình. Nó còn vạch trần âm mưu hiểm độc của những người tự xưng là đạo đức. Một mũi tên giết hai con chim – nhất tiễn diệt song điêu – là hình ảnh cho thấy rõ dã tâm của các luật sĩ và biệt phái. Họ không chỉ muốn kết án người phụ nữ tội lỗi, mà còn muốn gài bẫy để hạ uy tín của Chúa Giêsu. Họ lợi dụng sự yếu đuối của một con người – đúng hơn là bôi nhọ danh dự của một người phụ nữ – để thực hiện mưu đồ đen tối. Thật vậy, họ không thực sự quan tâm đến công lý hay sự trong sạch, mà chỉ nhằm đạt được mục tiêu là loại trừ Chúa Giêsu, Đấng họ cho là thách thức địa vị và quyền lực của họ.

Cái bẫy tinh vi được giăng ra với một câu hỏi tưởng chừng công minh: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu không thể thoát khỏi cái thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu Người bảo tha thì sẽ bị tố là phá luật Môsê. Nếu Người đồng ý ném đá, thì sẽ mâu thuẫn với chính lời giảng dạy về lòng nhân từ, tha thứ. Nhưng họ đã quên rằng, đứng trước mặt họ không phải là một rabbi bình thường, mà là Đấng Khôn Ngoan nhập thể.

Chúa Giêsu không đáp lại ngay. Người cúi xuống, viết trên đất. Một hành động vừa bất ngờ, vừa đầy ý nghĩa. Người không tham gia vào vũ điệu phán xét vội vã. Người mời gọi sự thinh lặng – một không gian nội tâm để soi xét chính mình. Và rồi Người ngẩng lên, trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Một câu nói “nhất ngôn độ bách tính” – một lời mà cứu cả người bị cáo lẫn những kẻ tố cáo. Người không từ chối thi hành luật, nhưng đưa luật về đúng bản chất của nó: công bằng và lương tâm.

Người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của tội lỗi. Họ có truyền thống thống hối sâu sắc, như lời Thánh vịnh 50: “Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm… Con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.” Câu nói của Chúa Giêsu lay động cả đám đông. Người ta rút lui dần dần, từ người lớn tuổi nhất – người từng trải và hiểu rõ đời mình hơn. Cả một nhóm người hùng hổ kết án giờ trở thành những kẻ xưng thú tội lỗi trong thinh lặng. Một lời nói đã giải thoát tất cả.

Và rồi, chỉ còn lại hai người: Chúa Giêsu và người phụ nữ. Chỉ có Đấng vô tội mới có quyền kết án, nhưng Người lại phán: “Tôi không lên án chị. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Một lần nữa, lòng thương xót đã thắng thế. Tha thứ không đồng nghĩa với bỏ qua, dung túng. Tha thứ là cho một cơ hội mới, là tái tạo phẩm giá, là hướng người tội lỗi về con đường sống. Chúa ghét tội, nhưng yêu thương tội nhân. Và để yêu thương như thế, Người – Đấng vô tội – đã chấp nhận bị kết án thay cho họ.

Cái cúi xuống viết trên đất là một hành vi nhân ái đầy tinh tế. Nó ngăn chặn cái nhìn xét đoán và tạo điều kiện để người ta nhận lỗi trong âm thầm. Nếu Chúa Giêsu nhìn thẳng, có thể đám đông đã cố chấp đến cùng. Nhưng cái cúi đầu của Người là một hành vi “làm ngơ” thánh thiện – không phải là thờ ơ, nhưng là tạo không gian cho tự do và lương tâm lên tiếng. Đó cũng là điều chúng ta phải học khi đối diện với những lỗi lầm của người khác: khoan dung, tế nhị và tôn trọng phẩm giá.

Ai trong chúng ta sạch tội? Câu hỏi đó vẫn vang lên giữa thế giới hôm nay – nơi đầy dẫy phán xét, loại trừ, kết án. Chúng ta dễ phán xét nhanh chóng qua vài dòng trên mạng, qua những cái nhìn phiến diện. Nhưng Chúa Giêsu không làm như thế. Người cúi xuống, lắng nghe, chờ đợi. Người mời gọi ta hãy lấy cái xà ra khỏi mắt mình trước khi chỉ cái rác trong mắt anh em.

Mùa Chay là thời gian hoán cải. Là lúc chúng ta đặt mình vào vị trí của người phụ nữ nọ – không phải để biện minh, mà để nhận ra rằng: mình cũng cần được tha thứ. Và khi đã được tha thứ, hãy biết tha thứ cho người khác. Như Chúa đã tha thứ cho ta bằng cái giá của thập giá, hãy yêu thương và tha thứ nhau không chỉ bảy lần mà bảy mươi lần bảy.

Giáo Hội mời gọi chúng ta trở nên hình ảnh của Chúa Giêsu trong thế giới này: sống yêu thương, hành xử tế nhị, tôn trọng phẩm giá người khác, và nhất là, đừng bao giờ lợi dụng lỗi lầm của ai đó để thỏa mãn dục vọng, toan tính, hay mưu đồ riêng. Hãy cúi xuống như Chúa đã cúi xuống – không phải để xét đoán, mà để cảm thông. Hãy nói như Chúa đã nói – không để kết án, mà để nâng dậy. Và hãy sống như Chúa đã sống – sẵn sàng chết thay cho người tội lỗi.

Xin cho chúng ta biết noi gương Đấng đã không lên án, nhưng mời gọi hoán cải. Xin cho chúng ta trở thành những con người mang lòng thương xót vào đời, để tình thương luôn là ngôn ngữ sau cùng trong mọi tương quan con người.

Lm. Anmai, CSsR

THINH LẶNG ĐỂ THA THỨ, ÁNH NHÌN ĐỂ CỨU ĐỘ

Anh chị em thân mến,

Sau dụ ngôn người cha nhân từ mà chúng ta đã lắng nghe trong Chúa Nhật IV Mùa Chay, hôm nay Tin Mừng lại kể cho chúng ta một câu chuyện có thật – một câu chuyện mà trong đó chính Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn những gì Ngài đã giảng dạy: lòng nhân từ, thái độ bao dung, một sự thinh lặng đầy lòng xót thương, và một ánh mắt cứu độ. Với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Chúa không lớn tiếng luận phạt, không kết án, không mắng nhiếc. Ngài chỉ nói vỏn vẹn một câu, nhưng là câu mang sức cứu độ muôn đời: “Tôi không kết tội chị, chị hãy về bình an.”

Đó là một lời nói, một hành động ngoài mọi dự đoán của người đàn bà khốn khổ, và cũng ngoài dự đoán của đám đông vốn sẵn sàng ném đá. Nhưng đó lại chính là khuôn mặt thật của Thiên Chúa. Thiên Chúa của chúng ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn họ ăn năn và được sống. Ngài không tìm cách triệt hạ kẻ có tội, nhưng muốn nâng họ dậy. Không phải bằng roi đòn, bằng tiếng gào thét, nhưng bằng một sự thinh lặng thấm đẫm tình yêu thương.

Câu chuyện này cũng là câu chuyện của chính mỗi người chúng ta. Chúng ta là những tội nhân – không hơn không kém – và biết bao lần đã đứng đó, trong cùng hoàn cảnh với người phụ nữ. Nhưng Chúa không ném đá. Chúa thinh lặng, Chúa chờ đợi. Và điều đáng sợ nhất chính là: có lúc tôi đã nghĩ rằng sự thinh lặng ấy có nghĩa là Chúa không quan tâm; có khi tôi tưởng sự khoan dung ấy là dấu hiệu đồng lõa với lỗi lầm. Thế rồi tôi cứ sống trong tội mà không biết mình đang dần xa Chúa.

Nhưng không – Chúa vẫn ở đó, ánh mắt Ngài vẫn đổ xuống trên tôi như ngày xưa Ngài nhìn người phụ nữ khốn khổ kia. Không phải cái nhìn xét đoán, mà là cái nhìn đánh động – một cái nhìn làm tan chảy trái tim. Cái nhìn ấy mạnh hơn mọi lời rao giảng, sâu hơn mọi lời cảnh cáo. Một ánh mắt làm sống lại điều tốt đẹp nhất trong tôi – điều mà chính tôi cũng đã quên mất.

Thật cảm động biết bao khi đọc câu trả lời của Chúa: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Chỉ một câu thôi – không tranh luận, không giải thích – nhưng là câu nói vạch trần sự thật. Tin Mừng kể rằng, từ người lớn tuổi nhất đến người trẻ nhất, từng người một âm thầm rút lui. Thật đúng như lời Thánh Vịnh: “Chúng mắc bẫy chính chúng bày ra.” Sự thinh lặng của Chúa đã làm lộ ra sự giả hình, sự ích kỷ, và cả sự hèn nhát của con người. Nhưng chính sự thinh lặng ấy cũng đã giữ lại nhân phẩm cho họ – Chúa không làm cho ai phải xấu hổ công khai, nhưng để mỗi người tự xét lại mình trong thẳm sâu lương tâm.

Thật đáng khâm phục thay khi họ đã bỏ đi. Dù đến với thái độ hí hửng, tưởng mình là người đạo đức, tưởng mình là đại diện của công lý, cuối cùng họ đã bị lời Chúa soi sáng. Ít ra, họ còn biết trung thực với chính mình. Và đó cũng là điều mà tôi – người môn đệ hôm nay – cần học. Đừng bao giờ lấy mình làm chuẩn mực để xét đoán người khác. Đừng bao giờ tưởng rằng mình vô tội để rồi lên án kẻ khác như những người biệt phái năm xưa. Bởi lẽ tôi biết – nhiều khi chính tôi, tuy không bị đưa ra giữa công đường, nhưng lại chất đầy trong lòng những hình phạt và án xử đối với người khác.

Chúa Giêsu hôm nay không chỉ cứu sống một người phụ nữ. Ngài cứu cả những người muốn ném đá chị. Ngài cho họ cơ hội trở lại, cơ hội khám phá sự thật về mình. Và Ngài cũng cứu tôi nữa – cứu tôi khỏi cái nhìn xét đoán, khỏi tâm lý thù hằn, khỏi thái độ lạnh lùng và vô cảm. Chúa mời gọi tôi nhìn lại chính mình, nhìn lại ánh mắt của Ngài – để từ đó, biết nhìn anh em bằng cái nhìn của lòng nhân hậu.

Anh chị em thân mến,

Thế giới hôm nay vẫn còn rất nhiều người bị kết án, không phải bởi luật pháp, nhưng bởi dư luận, bởi những định kiến, bởi những cái nhìn khắt khe. Biết bao người vẫn đang bị giam cầm trong tội lỗi, trong mặc cảm, trong nỗi cô đơn. Nếu chúng ta không thể tha thứ, ít ra hãy ngưng xét đoán. Nếu không thể nâng đỡ, thì xin đừng hạ thấp. Chúng ta là ai mà dám ném đá người khác? Chúng ta có đủ thánh thiện để đứng ở vị trí của Thiên Chúa không?

Mùa Chay là mùa của tha thứ và hoán cải. Hãy tha thứ cho chính mình, hãy để Chúa thứ tha cho ta, và hãy đem sự tha thứ ấy lan tỏa đến những người xung quanh. Câu nói của Chúa hôm nay – “Tôi không kết tội chị đâu” – cũng là lời nói với từng người chúng ta. Lời ấy không chỉ là sự xóa bỏ tội lỗi, mà còn là một lời sai đi: hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa. Hãy sống khác đi, sống như người đã được tha thứ, đã được yêu thương, đã được cứu sống.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì lòng xót thương vô bờ. Con đã từng lầm lỡ, từng kiêu căng, từng xét đoán người khác. Con đã từng bị sa ngã và từng cố gắng che đậy tội mình. Nhưng hôm nay, xin Chúa hãy nhìn con bằng ánh mắt của yêu thương. Xin cho con biết trung thực với bản thân và khiêm tốn trước tha nhân. Xin cho con đừng bao giờ cầm viên đá lên với ai, nhưng hãy biết cúi xuống để viết lên cát những dấu yêu và thứ tha. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA ĐANG LÀM MỘT ĐIỀU MỚI – LÒNG THƯƠNG XÓT ĐƯA TA VÀO ĐỜI SỐNG MỚI

Tiên tri Isaia đã nói với dân Do Thái một lời đầy hy vọng: “Đừng nhớ lại những điều đã qua, đừng nghĩ đến những chuyện thủa trước. Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó đang manh nha, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,18-19). Đó là lời mời gọi vượt ra khỏi quá khứ của thất bại, của sa ngã, của tội lỗi để hướng về một hiện tại đầy ân sủng và một tương lai đầy hy vọng. Với dân Israel năm xưa, Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách lưu đày Babylon. Còn với chúng ta hôm nay, Đức Giêsu chính là điều mới Thiên Chúa đang làm cho nhân loại. Ngài đến không phải để kết án, nhưng để cứu chuộc, không phải để lôi chúng ta về với quá khứ tội lỗi, mà để mở ra một tương lai của lòng thương xót và sự phục hồi.

Và điều mới mẻ ấy đã được thể hiện cách sống động trong bài Tin Mừng hôm nay – câu chuyện người phụ nữ ngoại tình được đem đến trước mặt Đức Giêsu. Một câu chuyện mà nếu đọc qua thì có vẻ đơn giản: tội – phán xét – tha thứ. Nhưng nếu lắng nghe bằng trái tim, chúng ta sẽ thấy đây là một cuộc chạm trán mầu nhiệm giữa công lý và lòng xót thương, giữa sự giả hình và sự thật, giữa tội lỗi và ân sủng. Và ở trung tâm của cuộc gặp gỡ ấy là Đức Giêsu – hiện thân của lòng thương xót Thiên Chúa.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng cái nhìn về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Không rõ chị đã phạm tội này lần đầu hay nhiều lần. Không rõ ai là người đàn ông liên can, vì lạ thay, luật Môsê buộc cả hai đều phải bị xét xử, nhưng chỉ có mình chị bị lôi ra trước công luận. Phải chăng chị là nạn nhân của một cái bẫy đã được giăng sẵn? Một cái bẫy để hạ bệ một người phụ nữ yếu thế, nhưng quan trọng hơn, là cái bẫy để gài Đức Giêsu?

Giờ đây, chị đứng đó – trơ trọi, run rẩy, trước bao cặp mắt khinh bỉ và khát máu. Không còn gì để chối cãi. Không còn gì để bào chữa. Không có luật sư, không có biện hộ. Án phạt gần như đã chắc chắn: ném đá đến chết. Nhưng phía sau dáng vẻ tội lỗi ấy là nỗi sợ hãi tột cùng, là nỗi niềm ân hận, là một tiếng kêu thầm lặng trong trái tim: “Có ai cứu tôi không?”

Và chị đã được cứu. Không phải bởi luật, cũng không phải bởi lòng thương xót của những người “đạo đức” vây quanh chị, mà bởi Đấng Duy Nhất có quyền xét xử, nhưng lại chọn tha thứ – Đức Giêsu Kitô.

Những người kinh sư và biệt phái kéo người phụ nữ đến trước Đức Giêsu. Họ cầm trên tay luật Môsê, nhưng trong lòng đầy ác ý. Dù họ viện dẫn luật pháp, mục tiêu của họ không phải là bảo vệ lề luật hay công lý, mà là gài bẫy Đức Giêsu – người mà họ ganh ghét và muốn loại trừ. Nếu Ngài tha, họ sẽ kết tội là Ngài coi thường lề luật; nếu Ngài chấp thuận ném đá, thì Ngài đâu khác gì họ?

Đó là sự nguy hiểm của một tôn giáo không có lòng thương xót: lấy luật để xét xử người khác, nhưng quên mất chính mình cũng là tội nhân. Họ không đến để cứu chị phụ nữ, mà để kết tội; không đến để dẫn người tội lỗi đến với Thiên Chúa, mà để loại trừ khỏi cộng đồng. Họ là hiện thân của một thứ đạo đức giả – thứ đạo đức chỉ biết nhìn tội người khác mà quên xét mình.

Đối diện với bầu khí căng thẳng ấy, Đức Giêsu cúi xuống và viết trên đất. Một hành động đầy im lặng và ý nghĩa. Có thể là Ngài đang ghi tội của những kẻ đứng đó. Có thể là Ngài đang cầu nguyện. Nhưng chắc chắn đó là lúc Ngài tạo không gian để mỗi người tự xét mình. Và rồi, Ngài đứng lên và thốt ra một câu nói bất hủ: “Ai trong các ông vô tội, hãy ném đá chị này trước đi.”

Đó không phải là lời thách thức, nhưng là lời mời gọi xét lại chính mình, là lời đánh động lương tâm từng người. Và kết quả thật rõ ràng: họ rút lui từng người một, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Vì ai trong chúng ta có thể tự hào mình vô tội? Ai dám đưa tay ném đá khi chính mình cũng cần được tha thứ?

Chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ. Giờ đây không còn ai xét xử chị. Và Đức Giêsu cũng không kết án. Ngài tha thứ, nhưng không dừng lại ở đó. Ngài mở ra một con đường mới: “Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

Không ai chối bỏ tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu nhìn xa hơn tội, Ngài thấy khả năng sống tốt, thấy trái tim đang khao khát đổi mới, thấy tương lai mà chị phụ nữ có thể bước tới. Đó là sức mạnh của lòng thương xót – không dừng lại ở lỗi lầm, nhưng mở ra tương lai.

Câu chuyện người phụ nữ được tha thứ không chỉ là một sự kiện cá biệt. Thánh Phaolô, người từng bắt bớ Giáo Hội, cũng đã trở thành một con người mới nhờ gặp gỡ Đức Giêsu. Trong thư gửi tín hữu Philipphê, ngài nói: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu.” Ngài không tự hào về thành tích, nhưng lao mình về phía trước, nhắm đích là chính Đức Kitô.

Phaolô không ngừng sống trong niềm xác tín: quá khứ không ràng buộc tôi nữa, tôi là người mới trong Đức Kitô. Chị phụ nữ kia cũng thế. Một khởi đầu mới. Một đời sống mới. Một hy vọng mới. Và với mỗi người chúng ta, cũng vậy.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay là câu chuyện của từng người chúng ta. Ai trong chúng ta không có những lỗi lầm, những lần sa ngã, những yếu đuối? Có thể đó là những tội chúng ta đã thú nhận, hoặc có thể là những điều vẫn giữ kín trong tim. Có thể chúng ta giống như người phụ nữ ấy, run rẩy sợ hãi vì mặc cảm tội lỗi. Hoặc có thể, đôi lúc, chúng ta giống như những kinh sư và biệt phái – cầm đá sẵn trong tay để kết án người khác.

Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy trung thực với chính mình. Đừng kết án, hãy tha thứ. Đừng nhớ lỗi cũ, hãy cho nhau cơ hội. Và nhất là, hãy đến với Bí tích Hòa Giải trong Mùa Chay này. Đó là nơi ta gặp gỡ lòng thương xót. Đó là nơi ta được tha thứ và được ban sức mạnh để làm lại cuộc đời.

Chúa không muốn ta sống trong mặc cảm hay sợ hãi. Ngài muốn ta bước ra ánh sáng, làm con người mới, như chị phụ nữ kia, như thánh Phaolô. Ngài vẫn đang nói với ta: “Ta không kết án con đâu. Hãy đi, và đừng phạm tội nữa.”

Thiên Chúa không phải là Đấng nhắc lại quá khứ của ta, mà là Đấng tạo ra tương lai mới cho ta. Ngài không bắt ta phải sống mãi trong tội, nhưng mời gọi ta sống lại trong ân sủng. Hôm nay, nơi Bí tích Hòa Giải, nơi bàn tiệc Thánh Thể, Chúa Giêsu đang làm một điều mới cho chúng ta.

Hãy đến với Ngài. Hãy để lòng thương xót Ngài làm ta đổi mới. Và rồi, chính chúng ta cũng trở nên chứng nhân cho lòng thương xót ấy – bằng một cái nhìn không kết án, bằng một trái tim biết tha thứ, và bằng một đời sống luôn nhắm về phía trước, như Phaolô: “Tôi quên đi chặng đường đã qua và lao mình về phía trước, nhắm đích là phần thưởng từ Thiên Chúa.” Amen.

Lm. Anmai, CSsR

Back To Top