CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP VÀ TINH THẦN THA…
CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP VÀ LÒNG BÁC ÁI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI KHỐN KHÓ – Lm. Anmai, CSsR
CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP VÀ LÒNG BÁC ÁI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI KHỐN KHÓ
Khi nhắc đến cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, lòng người tín hữu thường nhớ ngay đến hình ảnh của một vị mục tử gần dân, thương dân, sống giữa dân và cuối cùng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Nhưng nếu đi sâu hơn vào dung mạo thiêng liêng của ngài, người ta còn thấy nổi bật một nét rất đẹp, rất gần với Tin Mừng, và cũng rất gần với những vết thương cụ thể của con người, đó là lòng bác ái đối với người nghèo và người khốn khó. Nơi cha Diệp, bác ái không phải là một ý niệm đẹp để nói trên tòa giảng. Bác ái cũng không chỉ là một vài cử chỉ bề ngoài để người ta khen là tốt lành. Bác ái nơi ngài là một lối sống, một nhịp đập của trái tim, một cách hiện diện trước nỗi đau của tha nhân. Theo những lời kể còn được truyền lại, cha rất thương người nghèo, sẵn sàng lấy gạo trong kho để giúp người đói, và tìm mọi cách để giúp những người thiếu chỗ ở. Những chi tiết ấy nghe qua tưởng nhỏ, nhưng thật ra lại chạm vào tận cốt lõi của Tin Mừng. Bởi vì đó là chỗ đức tin được thử bằng sự thật. Người ta có thể nói rất hay về Chúa, nhưng khi đứng trước một người đói, một mái nhà dột nát, một thân phận bị bỏ quên, thì lúc ấy mới biết lòng mình có thật sự thuộc về Chúa hay không.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: nhiều khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa trong những giờ cầu nguyện sốt sắng, nhưng lại lúng túng trước một người nghèo đang ở ngay trước mắt. Chúng ta có thể xúc động khi nghe kể về cuộc khổ nạn của Đức Kitô, nhưng lại vô cảm trước cuộc khổ nạn kéo dài trong đời sống của những người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chỗ ở, thiếu người bênh vực, thiếu một ánh mắt nhìn họ như con người có phẩm giá. Chính ở chỗ này, đời sống của cha Trương Bửu Diệp trở thành một lời nhắc rất mạnh. Ngài không để khoảng cách giữa bàn thờ và cuộc đời trở nên quá xa. Ngài không chia tách việc thờ phượng Thiên Chúa với việc cúi xuống trên nỗi khốn cùng của anh chị em. Có lẽ đối với cha, đó không phải là hai việc khác nhau. Càng yêu Chúa, ngài càng thương người. Càng sống gần Chúa, ngài càng không thể đứng yên trước cảnh đói nghèo, thiếu thốn. Và như thế, lòng bác ái của cha không phải là một hoạt động phụ thêm bên lề sứ vụ linh mục, nhưng chính là một phần rất thật của đời linh mục ấy.
Người nghèo luôn có một chỗ đặc biệt trong trái tim Thiên Chúa. Từ Cựu Ước cho đến Tân Ước, ta thấy rõ điều đó. Thiên Chúa nghe tiếng kêu của người bị áp bức. Thiên Chúa bênh vực cô nhi quả phụ. Thiên Chúa không làm ngơ trước nước mắt của những kẻ bị loại trừ. Và rồi nơi Đức Giêsu, tình thương ấy trở nên hữu hình. Người chạnh lòng thương đám đông bơ vơ. Người dừng lại trước người mù bên vệ đường. Người chạm vào người phong cùi. Người ăn uống với kẻ bị khinh chê. Người nói rằng bất cứ điều gì làm cho một trong những anh em bé mọn nhất, là làm cho chính Người. Câu ấy không phải chỉ là một lời khuyên luân lý. Đó là một mặc khải. Đức Kitô đã đồng hóa mình với người bé mọn. Vì thế, khi một linh mục mở kho gạo cho người đói, đó không chỉ là một hành động xã hội; đó là một cuộc gặp gỡ với chính Chúa đang hiện diện trong người nghèo. Khi một mục tử lo cho một gia đình có chỗ trú thân, đó không chỉ là giúp họ qua cơn bĩ cực; đó là đang dựng lại phần nào phẩm giá mà nghèo đói thường làm cho méo mó trong mắt người đời.
Điều làm cho lòng bác ái của cha Diệp trở nên cảm động không chỉ vì ngài thương người nghèo, nhưng còn vì ngài thương họ một cách rất cụ thể. Đó là nét đẹp lớn của bác ái Kitô giáo. Tình thương của Tin Mừng không được phép chỉ dừng lại ở những lời hứa, những ý tưởng đẹp, hay những xúc cảm nhất thời. Tình thương thật bao giờ cũng đi vào thực tế. Một người đang đói thì cần lương thực. Một người đang lạnh thì cần áo mặc. Một gia đình không có chỗ ở thì cần một mái che. Một người cô độc thì cần một bàn tay nắm lấy. Một người đau khổ thì cần một ai đó ở lại bên mình. Nếu chỉ nói về Thiên Chúa là tình yêu mà không để cho tình yêu ấy chạm vào thân xác mệt mỏi, căn nhà trống vắng, bữa cơm thiếu hụt, nỗi lo thường nhật của con người, thì lời nói ấy dễ trở nên xa lạ với cuộc đời. Cha Trương Bửu Diệp dường như hiểu rất sâu điều đó. Ngài không giảng một thứ đạo chỉ để nghe. Ngài sống một đức tin biết chạm đất, biết đi vào bùn lầy của phận người, biết cúi xuống trên những thiếu thốn rất trần gian mà lại rất thiêng liêng, bởi đó là nơi phẩm giá con người đang bị thử thách từng ngày.
Nhiều khi chúng ta nghĩ bác ái là cho đi cái mình dư. Nhưng nơi các vị thánh thiện, bác ái thường không bắt đầu từ cái dư, mà bắt đầu từ trái tim biết đau với nỗi đau của người khác. Người nghèo khổ làm các ngài không khó chịu, không mệt mỏi, không bị xem như gánh nặng. Trái lại, người nghèo khổ làm lòng các ngài rung lên. Các ngài thấy họ không phải là những trường hợp cần giải quyết cho xong, nhưng là những con người cần được yêu thương. Đó là khác biệt rất lớn. Khi bác ái chỉ là ban phát, người cho vẫn đứng cao hơn người nhận. Nhưng khi bác ái là gặp gỡ, người cho và người nhận đứng trước nhau như anh em. Người nghèo không bị coi thường. Họ được tôn trọng. Họ không bị đối xử như một con số của hoàn cảnh, nhưng như một khuôn mặt mang hình ảnh Thiên Chúa. Chính chỗ này làm cho lòng bác ái Kitô giáo đẹp một cách rất sâu. Nó không chỉ lấp đầy một khoảng trống vật chất. Nó còn sưởi ấm một khoảng trống tinh thần. Nó trả lại cho con người cảm thức rằng mình vẫn đáng được thương, vẫn đáng được quan tâm, vẫn không bị loại khỏi trái tim của Thiên Chúa và của Hội Thánh.
Có lẽ cha Diệp hiểu rằng cái đói của con người không chỉ là cái đói cơm bánh. Con người còn đói sự cảm thông, đói sự hiện diện, đói niềm hy vọng, đói một ai đó tin rằng đời mình chưa bị bỏ đi. Nhiều người nghèo khổ mang trên vai không chỉ là thiếu tiền, mà còn là cảm giác bị quên lãng. Họ quen với việc bị người khác đi ngang qua, bị xét đoán, bị tránh né, bị nhìn bằng đôi mắt thương hại pha lẫn khoảng cách. Bởi thế, một hành động bác ái thật sự không chỉ là cho cái gì, mà còn là trao chính mình. Trao một sự quan tâm không giả vờ. Trao thời gian. Trao sự tôn trọng. Trao một chỗ đứng trong cộng đoàn. Trao cảm giác rằng họ không phải là người bên lề. Một linh mục thương người nghèo không chỉ vì ngài có lòng tốt tự nhiên, nhưng sâu hơn, vì ngài nhìn thấy nơi họ chính Đức Kitô nghèo khó đang chờ được đón nhận.
Ở đây, chúng ta chạm đến một bài học rất quan trọng cho đời sống đạo hôm nay: đức tin thật luôn đi kèm lòng thương xót rất thực tế. Nói cách khác, một đức tin không đụng gì đến cách ta đối xử với người nghèo thì là một đức tin cần phải được xét lại. Chúng ta có thể thuộc nhiều kinh, tham dự nhiều việc đạo đức, giữ nhiều truyền thống tốt lành, nhưng nếu lòng mình khô cứng trước những khốn khó cụ thể của anh em, thì vẫn còn thiếu một điều gì cốt yếu. Bởi Tin Mừng không cho phép chúng ta trốn vào một thứ đạo an toàn, khép kín, sạch sẽ theo nghĩa chỉ biết giữ mình, mà không dám mang lấy mùi của đời sống con người. Đức Giêsu đã bước vào thế giới này không phải để đứng xa khỏi khổ đau, nhưng để ở giữa khổ đau. Người sinh ra trong nghèo khó, sống giữa dân nghèo, loan báo Tin Mừng cho người bé mọn. Ai đi theo Người mà không mở lòng cho người khốn khó thì đã đi theo Người một cách chưa trọn.
Lòng bác ái của cha Trương Bửu Diệp cũng cho ta thấy rằng sự thánh thiện không nằm ở những điều quá xa xôi. Nhiều người tưởng nên thánh là làm những việc lớn lao hiếm hoi. Nhưng thực ra, rất nhiều khi sự thánh thiện được dệt nên từ những hành động âm thầm: chia một bao gạo, lo một chỗ ở, hỏi han một người bệnh, đỡ nâng một gia đình sắp gục, lắng nghe một người tuyệt vọng. Thiên Chúa thường đi qua những con đường rất bình thường như thế. Và chính vì bình thường nên người ta dễ bỏ qua. Nhưng các tâm hồn thuộc về Chúa thì không coi thường những điều nhỏ bé ấy. Họ biết rằng một bữa cơm trong lúc đói có thể trở thành dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Một mái nhà đơn sơ trong lúc bấp bênh có thể trở thành lời chứng rằng Chúa không bỏ rơi ai. Một sự giúp đỡ kín đáo trong lúc túng quẫn có thể cứu lại lòng tin đang sắp tắt nơi một con người. Những điều ấy không ồn ào, nhưng lại mang sức nặng của Nước Trời.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hôm nay, khi người ta dễ nói về đức tin bằng những ngôn ngữ lớn, nhưng lại ít kiên nhẫn với những gánh nặng nhỏ của nhau. Có những gia đình đang kiệt sức vì cơm áo. Có những người già cô đơn đến mức không ai hỏi một câu. Có những người trẻ sống giữa thành phố nhưng tâm hồn không có chỗ trú. Có những người lao động bị xem như công cụ. Có những người bệnh nằm đó không phải chỉ đau vì thân xác, mà còn đau vì thấy mình trở thành gánh nặng cho người thân. Có những đứa trẻ lớn lên trong thiếu thốn cả vật chất lẫn tình thương. Có những người nghèo mang quần áo tươm tất nhưng trong lòng thì đã rách nát vì quá nhiều thất bại. Người khốn khó hôm nay không chỉ hiện diện ở những vùng nghèo xa xôi. Họ có thể ở ngay sát nhà ta, trong giáo xứ ta, trong họ hàng ta, thậm chí trong chính cộng đoàn đạo đức của ta. Vì thế, học nơi cha Diệp lòng bác ái đối với người nghèo không chỉ là nhớ về một nhân đức đẹp của quá khứ, mà còn là để cho nhân đức ấy chất vấn lối sống hiện tại của mình.
Có lẽ điều đầu tiên ta cần xin là đôi mắt. Bởi nhiều khi vấn đề không phải là không có người nghèo, mà là ta không còn nhìn thấy họ. Ta quá bận với đời mình. Ta quen với tiện nghi. Ta sợ bị phiền. Ta tự khép mình trong những vòng tròn an toàn. Ta dễ xúc động với đau khổ ở đâu đó rất xa, nhưng lại ít để ý tới đau khổ đang gõ cửa cạnh mình. Một trái tim bác ái phải bắt đầu bằng đôi mắt biết nhìn. Nhìn không lướt qua. Nhìn không hời hợt. Nhìn với sự tôn trọng. Nhìn với lòng thương. Nhìn như Đức Kitô nhìn. Cha Trương Bửu Diệp chắc hẳn đã có đôi mắt như thế. Nếu không, ngài đã không để tâm đến chuyện người này đang đói, người kia không có chỗ ở, gia đình nọ đang lâm cảnh bĩ cực. Người có trái tim mục tử thật luôn để ý tới những nhu cầu mà người khác bỏ qua.
Sau đôi mắt là đôi tay. Bác ái không thể sống chỉ bằng cảm xúc. Cảm động thôi chưa đủ. Phải có bước chân đi đến. Phải có bàn tay mở ra. Phải có phần mình dám chia sẻ. Phải có sự hy sinh cụ thể nào đó. Nhiều người muốn thương người nghèo nhưng chỉ khi việc ấy không làm xáo trộn cuộc sống mình. Nhưng Tin Mừng thì khác. Tình yêu thật luôn làm ta bị đánh động, bị kéo ra khỏi sự an ổn, buộc phải lựa chọn. Cha Diệp lấy gạo trong kho để giúp người đói. Cử chỉ ấy nói lên nhiều điều. Nó cho thấy ngài không xem của cải như vật để giữ chặt, nhưng như phương tiện để phục vụ. Nó cũng cho thấy ngài hiểu rằng của cải trong Hội Thánh không được tích trữ một cách lạnh lùng khi trước cửa vẫn còn những người thiếu đói. Ở đây, ta thấy một tinh thần rất Tin Mừng: cái mình có là để trao ban; điều Chúa gửi trong tay mình là để trở thành phúc lành cho người khác.
Nhưng bác ái Kitô giáo còn đi xa hơn sự trợ giúp trước mắt. Nó còn là sự chia sẻ hy vọng. Người nghèo không chỉ cần cái để sống hôm nay; họ còn cần được nâng đỡ để tin rằng ngày mai vẫn có ánh sáng. Một người được cho cơm mà bị khinh thường thì lòng họ vẫn đau. Một người được giúp đỡ mà không được tôn trọng thì vết thương vẫn còn. Vì vậy, học nơi cha Diệp lòng bác ái đối với người khốn khó còn là học cách cư xử sao cho người được giúp không thấy bị hạ thấp, nhưng cảm thấy mình được đón nhận. Có những lời nói làm người nghèo đau hơn cái đói. Có những thái độ khiến sự trợ giúp trở thành một sự nhục nhã. Và cũng có những con người tuy cho không nhiều, nhưng cách họ cho đầy nhân phẩm, đầy dịu dàng, đầy kính trọng, khiến người nhận được nâng dậy từ bên trong. Bác ái thật sự luôn đi cùng với khiêm nhường. Người cho biết rằng mình cũng nghèo trước mặt Chúa. Mình chỉ là người đang trao lại điều đã lãnh nhận. Mình không đứng trên ai.
Nếu nhìn kỹ hơn nữa, lòng bác ái của cha Trương Bửu Diệp không chỉ dạy ta cách cho người nghèo một chút gì đó. Ngài dạy ta một lối sống trong đó người nghèo có chỗ trong trái tim mình. Đây là điều khó hơn nhiều. Bởi bố thí đôi khi dễ hơn là mở rộng trái tim. Cho một lần có thể không khó, nhưng sống sao để thực sự mang lấy mối quan tâm đối với người bé mọn, để không để họ ra khỏi tầm nhìn của mình, để không để mình trở nên vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, đó mới là điều đòi hỏi một cuộc hoán cải nội tâm sâu xa. Đức ái không chỉ là làm vài việc tốt; đức ái là để cho trái tim mình nên giống trái tim Chúa hơn. Mà trái tim Chúa thì không lạnh trước tiếng thở dài của con người.
Trong đời sống gia đình, bài học này cũng rất lớn. Không phải ai cũng có thể làm những việc to lớn, nhưng ai cũng có thể sống lòng bác ái theo ơn gọi của mình. Một gia đình có thể bớt đi một chút tiêu xài để giúp một gia đình khó khăn hơn. Một người mẹ có thể dạy con biết tôn trọng người nghèo, không chế giễu, không khinh thường. Một người trẻ có thể tập nhìn người lao động, người bán vé số, người già neo đơn, những đứa trẻ bất hạnh, bằng đôi mắt khác đi. Một cộng đoàn có thể bớt tổ chức những điều chỉ để đẹp bề ngoài, để dành phần hơn cho những hoàn cảnh thực sự cần nâng đỡ. Một giáo xứ có thể trở thành mái nhà nếu ở đó người nghèo không thấy mình lạc lõng, nhưng thấy mình được yêu thương. Chính ở những lựa chọn như thế, Tin Mừng trở nên sống động.
Và còn một điều sâu hơn nữa. Nhiều khi người nghèo không chỉ là người thiếu của cải, mà còn là người nghèo về tinh thần, người nghèo vì bị bỏ rơi, người nghèo vì mang mặc cảm tội lỗi, người nghèo vì gia đình tan vỡ, người nghèo vì không còn ai tin vào họ. Nếu học nơi cha Diệp lòng bác ái đối với người khốn khó, chúng ta cũng được mời gọi mở lòng trước tất cả những dạng nghèo ấy. Có những linh hồn đói một lời an ủi. Có những tâm hồn lang thang không nhà trong chính cuộc đời mình. Có những con người cần một nơi trú ngụ thiêng liêng, cần một cộng đoàn không xét đoán họ ngay, cần một khuôn mặt linh mục, tu sĩ, giáo dân biết đón họ bằng ánh mắt hiền lành. Có thể nói, bất cứ nơi nào có một con người đang rách nát, ở đó bác ái Kitô giáo đều có lời mời gọi phải hiện diện.
Nhìn lên cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, ta không chỉ thấy một vị linh mục của quá khứ, nhưng thấy một câu hỏi cho hiện tại. Nếu cha đang sống giữa chúng ta hôm nay, cha sẽ nhìn gì nơi đời sống đạo của chúng ta? Có lẽ cha sẽ không chỉ hỏi chúng ta đọc kinh bao nhiêu, đi lễ thế nào, giữ việc đạo ra sao. Có lẽ cha cũng sẽ hỏi: chung quanh con, ai đang đói mà con không thấy? Ai đang bơ vơ mà con không để ý? Ai đang thiếu chỗ dựa mà con chưa từng ghé đến? Ai đang nghèo khổ mà con vẫn đi ngang qua với tâm hồn bình thản? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án, nhưng để đánh thức. Vì đôi khi đức tin của chúng ta ngủ quên trong những thói quen, và chỉ có khuôn mặt của người nghèo mới đánh thức ta về với Tin Mừng đích thực.
Xin cho chúng ta khi suy niệm về cha Trương Bửu Diệp, không chỉ dừng lại ở sự cảm phục, nhưng biết bước tới sự noi gương. Xin cho chúng ta hiểu rằng lòng bác ái không làm cho đức tin nhỏ đi, nhưng làm cho đức tin trở nên thật. Xin cho chúng ta đừng sợ phải chạm vào những khốn khó cụ thể của anh chị em mình. Xin cho bàn tay chúng ta biết mở ra, cho trái tim chúng ta biết mềm lại, cho đôi mắt chúng ta biết nhìn sâu hơn bề ngoài, và cho đời sống đạo của chúng ta thôi khô cứng, nhưng trở thành một dòng thương xót chảy vào những nơi đang hạn hán tình người. Và xin cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chuyển cầu để Hội Thánh hôm nay, đặc biệt tại những giáo xứ, cộng đoàn, gia đình, biết sống Tin Mừng bằng một tình thương không chỉ nói bằng môi miệng, nhưng chạm tới bữa ăn, mái nhà, nỗi lo, nước mắt, và cả phẩm giá mong manh của những người bé nhỏ nhất.
Bởi sau cùng, đó chính là chỗ người ta nhận ra một đức tin sống động: không phải ở chỗ nó nói về tình yêu hay đến đâu, nhưng ở chỗ nó làm cho ai đó bớt đói, bớt lạnh, bớt cô đơn, bớt tuyệt vọng, và bớt cảm thấy mình bị bỏ quên giữa cuộc đời này. Nơi cha Trương Bửu Diệp, lòng bác ái ấy đã sáng lên như một ngọn đèn. Và ngọn đèn ấy vẫn còn nhắc chúng ta hôm nay rằng: yêu Chúa thật thì không thể không thương người; mà thương người thật thì luôn phải rất cụ thể, rất gần, rất đau cùng nỗi đau của họ, và rất sẵn sàng trao đi chính mình.
Lm. Anmai, CSsR
