skip to Main Content

CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP VÀ ĐÊM TỐI CỦA LÒNG TRUNG THÀNH – Lm. Anmai, CSsR

CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP VÀ ĐÊM TỐI CỦA LÒNG TRUNG THÀNH

Khi nhắc đến cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, người ta thường nhớ ngay đến hình ảnh một vị mục tử gần dân, thương người nghèo, sống đơn sơ, gắn bó với Tắc Sậy, và sau cùng đã hiến mạng sống giữa cơn chiến loạn năm 1946. Các nguồn của Hội đồng Giám mục Việt Nam và Fides đều nhấn mạnh rằng ngài là một linh mục được lòng dân cách đặc biệt, được nhiều người Công giáo lẫn ngoài Công giáo yêu mến; dòng người hành hương về Tắc Sậy đã kéo dài nhiều thập niên, và Tòa Thánh cũng đã nhìn nhận cuộc tử đạo của ngài. Nhưng có lẽ điều chạm tới lòng người sâu nhất không chỉ là cái chết của cha Diệp, mà là cả một đời sống âm thầm đi tới cùng trong bổn phận, trong yêu thương, trong trung thành.

Các chứng từ còn lưu lại nói về cha Diệp như một con người hiền lành, giọng nói nhẹ nhưng rõ, rất thương người nghèo, sẵn sàng giúp người đói, người thiếu chỗ ở; đồng thời cũng là vị linh mục không bỏ giáo dân trong lúc hiểm nguy. Một bài suy niệm của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm còn ghi lại câu nói nổi tiếng gắn với quyết định ở lại của cha: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên.” Chính chiều kích ấy cho thấy nơi cha Diệp không phải là một thứ bùng cháy nhất thời, nhưng là một lòng trung thành đã được tôi luyện trong những ngày dài, những việc nhỏ, những chọn lựa lặng lẽ, trước khi đi đến chứng tá lớn lao sau cùng.

Tuy nhiên, khi nói về “đêm tối của lòng trung thành”, chúng ta phải rất khiêm tốn. Chúng ta không có những trang nhật ký nội tâm để biết cha Diệp đã trải qua những cơn khô khan thiêng liêng thế nào, đã phải vật lộn ra sao trong cô đơn, sợ hãi, mỏi mệt, hay trong những lần tưởng như cầu nguyện mà không thấy ánh sáng. Nhưng chính vì không biết hết, ta lại càng phải tránh một lỗi rất thường gặp: nhìn các vị thánh như những con người chỉ sống trên đỉnh núi, luôn bừng cháy, luôn mạnh mẽ, luôn đầy cảm hứng, không hề nếm trải bóng tối. Không. Phần lớn những linh hồn thuộc trọn về Chúa không phải là những người không biết đêm tối; trái lại, họ là những người đã học cách yêu Chúa ngay trong đêm tối, trung thành ngay khi không còn được nâng đỡ bởi cảm xúc, vẫn bước tiếp ngay khi trong lòng không còn một thứ ánh sáng dễ chịu nào.

Có một ảo tưởng khá phổ biến trong đời sống đạo: hễ yêu Chúa thật thì sẽ luôn sốt sắng, luôn thấy bình an, luôn có lửa, luôn cầu nguyện ngọt ngào, luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa rất gần. Vì thế, khi bước vào những mùa khô khan, người ta dễ hoảng sợ. Họ nghĩ mình đã sa sút. Họ tưởng Chúa đã bỏ mình. Họ nghi ngờ ơn gọi, nghi ngờ con đường, nghi ngờ cả những chọn lựa rất tốt đẹp trước kia. Có người còn đau đớn hơn nữa khi thấy mình vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn sống đúng bổn phận, nhưng lòng thì khô như đá, miệng đọc kinh mà tâm hồn như không cảm được gì, đôi khi còn thấy chán nản, mệt mỏi, trơ lì. Chính ở đây, đề tài về cha Trương Bửu Diệp trở nên rất gần với chúng ta. Bởi nơi ngài, ta gặp một gương mặt không nổi bật vì những lý thuyết dài dòng về đời sống thiêng liêng, nhưng nổi bật vì một đời sống mục tử ở lại. Và nhiều khi, “ở lại” chính là định nghĩa rất sâu của lòng trung thành.

Trong Kinh Thánh, đức tin không lớn lên chỉ trong những giờ phút sáng láng. Abraham có đêm tối của việc ra đi mà không biết tương lai. Môsê có đêm tối của bốn mươi năm sa mạc. Êlia có đêm tối của chán nản đến mức xin chết dưới gốc kim tước. Ngôn sứ Giêrêmia có đêm tối của cảm giác bị thiêu đốt bên trong mà không thể trốn khỏi sứ mạng. Thánh Phêrô có đêm tối của tiếng gà gáy. Thánh Phaolô có đêm tối của “cái dằm” không được cất đi. Và trên tất cả, Chúa Giêsu đi vào đêm tối sâu nhất trong Vườn Dầu, trên thập giá, trong tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Như thế, đêm tối không phải luôn là dấu chỉ Chúa vắng mặt; rất nhiều khi, đó lại là nơi Người làm việc sâu nhất trong linh hồn. Ánh sáng mà ta cảm thấy không phải lúc nào cũng là thước đo của sự hiện diện Thiên Chúa. Có những lúc Người ở gần nhất đúng vào khi ta không còn cảm thấy gì cả.

Vậy vì sao có những người vẫn yêu Chúa mà phải đi qua những mùa khô khan, thử luyện? Lý do thứ nhất là vì Thiên Chúa không muốn ta yêu Người chỉ bằng cảm giác, nhưng bằng toàn bộ hữu thể. Cảm xúc là một ân huệ tốt đẹp, nhưng nếu đời sống thiêng liêng chỉ dựa vào cảm xúc, thì đức tin sẽ rất mong manh. Hôm nay thấy sốt sắng thì cho là Chúa gần, ngày mai khô khan thì cho là Chúa xa. Hôm nay nước mắt cầu nguyện chảy ra thì tưởng mình đạo đức, ngày mai lòng khép lại thì tưởng mình bị loại bỏ. Thiên Chúa thương chúng ta hơn thế. Người muốn tình yêu của ta trưởng thành, nghĩa là biết đứng vững ngay cả khi không được thưởng bằng an ủi nội tâm. Một người chồng, một người vợ, một người mẹ, một linh mục, một tu sĩ, một giáo dân trưởng thành không phải là người chỉ trung thành khi lòng đang bừng cháy, nhưng là người vẫn giữ lời hứa trong những ngày không còn cảm xúc nâng đỡ. Đức tin cũng thế. Có khi Chúa rút bớt những consolatio, những dịu ngọt, để linh hồn thôi bám vào quà tặng mà bám vào chính Đấng ban quà.

Lý do thứ hai là vì thử luyện thanh tẩy ý hướng. Khi còn dễ chịu trong cầu nguyện, ta có thể lẫn lộn giữa yêu Chúa và yêu cảm giác về Chúa. Khi còn thành công trong sứ vụ, ta có thể lẫn lộn giữa phục vụ Chúa và vui vì mình có ích. Khi còn được người khác yêu mến, ta có thể lẫn lộn giữa sống cho Chúa và sống bằng sự nhìn nhận của người đời. Nhưng khi bước vào đêm tối, nhiều lớp vỏ bắt đầu rơi xuống. Lúc đó mới lộ ra câu hỏi thật: tôi có còn yêu Chúa khi không ai thấy tôi không? Tôi có còn cầu nguyện khi cầu nguyện chẳng đem lại khoái cảm gì không? Tôi có còn làm điều đúng khi điều đúng ấy làm tôi mất mát không? Tôi có còn ở lại với ơn gọi khi ơn gọi ấy trở thành thập giá không? Đêm tối đau, nhưng đêm tối trung thực. Nó không cho phép ta tự tô hồng mình. Nó bóc dần những ảo tưởng để linh hồn trở nên nghèo hơn, thật hơn, sạch hơn.

Lý do thứ ba là vì Thiên Chúa muốn làm cho trái tim con người rộng ra để biết cảm thông. Một người chưa từng đi qua sa mạc thường khó hiểu sự mỏi mệt của tha nhân. Một người chưa từng nếm vị khô khan dễ trở thành cứng cỏi, phán xét, chỉ thích đưa công thức. Một người chưa từng đi qua thử luyện dễ tưởng rằng đời sống đạo chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là xong. Nhưng những linh hồn đã đi qua đêm tối thường dịu hơn, bớt kết án hơn, biết ngồi cạnh người đau khổ hơn, biết im lặng đúng lúc hơn. Chính vì thế mà rất nhiều người đau khổ tìm đến cha Trương Bửu Diệp. Không phải chỉ vì họ mong một ơn lạ, nhưng sâu xa hơn, vì nơi hình ảnh của ngài, họ nhận ra một vị mục tử đã không bỏ con người giữa giờ đen tối. Một người đã ở lại với đoàn chiên trong hiểm nguy thì cũng trở nên rất gần với những ai đang đi qua hiểm nguy của riêng mình. Đó là lý do lòng đạo đức bình dân quanh cha Diệp mang một sức sống bền bỉ như thế.

Lý do thứ tư là vì đêm tối dạy ta hiểu thập giá từ bên trong. Nói về thập giá thì dễ. Giảng về phó thác thì dễ. Mời người khác vững tin thì dễ. Nhưng chỉ khi chính mình nếm sự chậm trễ của Thiên Chúa, sự im lặng của bầu trời, sự nặng nề của bổn phận, nỗi cô đơn của người không được ai hiểu, ta mới bắt đầu chạm tới điều mà Chúa Giêsu đã sống. Có những người yêu Chúa thật lòng, nhưng vì chưa đi qua lò lửa, nên tình yêu ấy còn pha nhiều hăng hái non trẻ. Đêm tối không hủy tình yêu; đêm tối nung tình yêu. Nó làm cho tình yêu thôi ồn ào, thôi khoe mình, thôi đòi được đáp trả theo ý mình, để trở thành một tình yêu có thể nói: lạy Chúa, con vẫn ở đây, cho dù con không hiểu gì nữa.

Nếu nhìn dưới ánh sáng ấy, ta sẽ thấy lòng trung thành của cha Trương Bửu Diệp không bắt đầu ở ngày chết, mà bắt đầu từ những ngày thường. Không ai bỗng nhiên có thể hiến mạng sống trong một giây phút nếu cả đời mình đã quen sống cho bản thân. Không ai có thể đứng vững ở giờ quyết liệt nếu trước đó tâm hồn không được rèn trong vô số lần vâng phục, hy sinh, chịu đựng, phục vụ, cầu nguyện, im lặng và ở lại. Chính đời sống đơn sơ, gần dân, thương người nghèo, trung thành với sứ vụ giữa một vùng quê xa xôi mới là mảnh đất đã âm thầm chuẩn bị cho giờ phút cuối cùng ấy. Nói cách khác, tử đạo hữu hình của cha Diệp có gốc rễ trong một “tử đạo âm thầm” kéo dài trước đó: chết đi cho tiện nghi, chết đi cho an toàn, chết đi cho cái tôi, chết đi cho chọn lựa dễ dãi. Nhờ thế, khi đêm tối lớn ập đến, ngài không phải học lòng trung thành từ đầu; ngài chỉ tiếp tục điều mình đã sống từ lâu.

Điều này đem lại cho chúng ta một ánh sáng rất quan trọng: đừng đợi đến khi gặp biến cố lớn mới tập trung thành. Đêm tối dài không được thắng bằng một cảm hứng nhất thời, nhưng bằng những thói quen thánh thiện rất nhỏ. Một người giữ lửa trong đêm không phải nhờ bốc đồng, mà nhờ bền bỉ. Vì thế, nếu hôm nay bạn đang đi qua một mùa khô khan, điều đầu tiên đừng làm là hoảng loạn. Đừng vội kết luận rằng đời sống thiêng liêng của mình đã chết. Cũng đừng đo lòng mến Chúa bằng độ “ấm” của cảm xúc. Có khi bạn đang yêu Chúa hơn bao giờ hết, chỉ có điều tình yêu ấy đang bị đưa ra khỏi tầng cảm giác để đi vào tầng chọn lựa sâu hơn. Cái làm nên sự thánh thiện không phải là lúc nào cũng thấy Chúa ngọt ngào, nhưng là vẫn chọn Người khi lòng không còn ngọt ngào nữa.

Làm sao để không mất lửa trong những đêm dài ấy? Trước hết, phải giữ trung thành với những điểm tựa căn bản. Khi linh hồn khô khan, người ta thường muốn bỏ giờ cầu nguyện vì thấy vô ích, bỏ lễ vì thấy nguội lạnh, bỏ xưng tội vì thấy mình cứ lặp đi lặp lại, bỏ phục vụ vì thấy chẳng còn sức. Nhưng đó lại là lúc phải bám lấy những điều căn bản nhất: Thánh lễ, Lời Chúa, giờ cầu nguyện, những kinh quen thuộc, việc xét mình, bí tích Hòa giải, những bổn phận của bậc sống. Không phải vì những điều ấy lập tức làm ta “cảm thấy tốt hơn”, nhưng vì chúng giữ cho ngọn tim không bị tắt. Trong đêm tối, ta không cần pháo hoa; ta cần một đốm than còn đỏ. Có khi chỉ là một lời nguyện rất ngắn: “Lạy Chúa, con không cảm thấy gì, nhưng con không muốn bỏ Ngài.” Có khi chỉ là ngồi yên mười phút trước Chúa, không tìm ý tưởng cao siêu nào. Có khi chỉ là đọc một thánh vịnh và để cho lời ấy nâng mình đi. Sự bền bỉ bé nhỏ ấy quý lắm trước mặt Chúa.

Thứ đến, phải học phân biệt giữa khô khan và nguội lạnh. Khô khan là khi ta vẫn muốn Chúa, vẫn muốn điều thiện, nhưng không cảm được, không thấy an ủi, lòng nặng nề. Nguội lạnh là khi ta bắt đầu thỏa hiệp với tội, không còn thiết tha tìm Chúa, không còn muốn chiến đấu nữa. Hai điều ấy rất khác nhau. Nhiều người đang khô khan mà lại tự kết án mình là nguội lạnh, nên sinh tuyệt vọng. Ngược lại, có người đang nguội lạnh lại tự ru ngủ rằng mình chỉ “mệt chút thôi”, nên không chịu hoán cải. Cần sự thật. Nếu bạn vẫn đau vì mình không cảm được Chúa, vẫn buồn vì mình cầu nguyện tệ, vẫn muốn trung thành dù rất mệt, thì có thể bạn đang ở trong một giai đoạn thanh luyện, chứ không hẳn là đang phản bội Chúa. Đừng tự đánh ngã mình thêm bằng những kết án thiếu phân định.

Một điều nữa rất quan trọng là đừng cô lập mình. Đêm tối rất dễ làm người ta khép lại. Có những linh hồn đau sâu đến mức không muốn nói với ai, sợ bị hiểu lầm, sợ bị khuyên những câu quá dễ, sợ bị đánh giá là yếu đuối. Nhưng Thiên Chúa thường chữa lành chúng ta qua Hội Thánh, qua một cha giải tội khôn ngoan, một vị linh hướng quân bình, một người bạn đạo trưởng thành, một cộng đoàn biết cầu nguyện. Không phải ai cũng hiểu đêm tối, nhưng bạn không được phép ở một mình quá lâu trong đó. Có những ngọn lửa nhỏ chỉ giữ được khi ở gần nhau. Có những lúc lời khuyên không cần nhiều; chỉ cần có người nói: tôi tin Chúa vẫn đang làm việc nơi anh, dù bây giờ anh chưa thấy.

Bên cạnh đó, phải tập giữ lòng biết ơn trong những điều nhỏ. Khi trời tối, mắt ta thường chỉ nhìn thấy bóng tối. Vì thế linh hồn cần được rèn để nhận ra những dấu chỉ rất bé của ân sủng: một ngày không bỏ cầu nguyện, một lần thắng được cơn cám dỗ, một lời Chúa chạm nhẹ, một Thánh lễ đi qua trong bình an, một việc bác ái âm thầm, một người đến với mình đúng lúc, một giọt nước mắt thật, một lần mình ngừng than trách để phó thác hơn. Đêm tối không có nghĩa là không còn ân sủng. Nhiều khi ân sủng vẫn ở đó, chỉ là không còn sáng theo kiểu ta muốn. Giữ lòng biết ơn là giữ cho linh hồn khỏi trở thành cay đắng. Và một trái tim không cay đắng thì chưa mất lửa.

Cũng phải nhớ rằng lửa thiêng không chỉ được nuôi bằng cảm xúc đạo đức, mà còn bằng đức ái cụ thể. Có những người trong mùa khô khan cứ quay vào trong mãi, đo xem mình còn cảm được bao nhiêu, nên càng lúc càng kiệt sức. Trong khi đó, một trong những cách mạnh nhất để giữ lửa là tiếp tục yêu thương cụ thể: vẫn làm tốt việc bổn phận, vẫn dịu dàng với người nhà, vẫn kiên nhẫn với người khó chịu, vẫn trung thực trong công việc, vẫn quan tâm tới người nghèo, vẫn hiện diện cho người đau khổ. Nhiều khi ta tưởng mình xa Chúa vì không còn cảm thấy gì; nhưng thật ra nếu ta còn tiếp tục yêu thương cách cụ thể, Chúa vẫn đang rất gần. Bởi vì Người không chỉ hiện diện trong an ủi nội tâm, mà còn hiện diện trong bổn phận, trong bác ái, trong sự tự quên mình. Cha Trương Bửu Diệp được người ta yêu mến không phải vì ngài để lại những phân tích thần bí phức tạp, nhưng vì ngài sống một đức ái rất thực. Và chính đức ái rất thực ấy là một ngọn lửa không dễ tắt.

Sau cùng, muốn không mất lửa trong đêm dài, ta phải chấp nhận một sự thật rất khó: có những câu trả lời sẽ không đến ngay. Có những mùa khô khan không hết sau một tuần, một tháng, thậm chí một năm. Có những thử luyện kéo dài đến mức ta chỉ còn có thể sống từng ngày. Ở đây, lòng trung thành không còn là những quyết tâm lớn lao nữa, mà là một lời “xin vâng” được lặp lại trong mệt mỏi. Hôm nay con chưa hiểu, nhưng con vẫn đi lễ. Hôm nay con thấy trống rỗng, nhưng con vẫn đọc một đoạn Tin Mừng. Hôm nay con muốn buông xuôi, nhưng con vẫn làm tròn bổn phận. Hôm nay con chẳng thấy ánh sáng nào, nhưng con xin giữ lòng khỏi oán trách. Chính những lời “xin vâng” nhỏ ấy, lặp đi lặp lại trong tối tăm, làm nên vẻ đẹp rất sâu của lòng trung thành. Có lẽ đời cha Diệp cũng đã được dệt bằng những điều như thế, trước khi trở thành chứng tá mà hôm nay cả một dân Chúa còn nhớ.

Và đó là điểm cuối cùng của bài suy niệm này: đêm tối không phải là nơi đức tin chết, mà rất thường là nơi đức tin bỏ lớp vỏ non trẻ để trưởng thành. Nhiều người muốn một đời sống thiêng liêng luôn sáng, luôn ấm, luôn dễ chịu. Nhưng các linh hồn thuộc về Chúa sâu hơn thường không được đi con đường ấy. Họ được dẫn vào sa mạc để học điều cốt lõi: Chúa là Chúa, ngay cả khi ta không cảm được Ngài; tình yêu vẫn là tình yêu, ngay cả khi lòng không rung động; lòng trung thành vẫn đẹp, ngay cả khi không ai biết; và ngọn lửa thật không phải là ngọn lửa bùng lên dữ dội trong chốc lát, nhưng là ngọn lửa âm ỉ vẫn cháy suốt đêm dài.

Nhìn lên cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, ta không chỉ xin ơn vượt khó, xin ơn bình an, xin ơn chữa lành, mà còn nên xin một ơn rất sâu hơn: ơn ở lại. Ở lại với Chúa khi cầu nguyện khô khan. Ở lại với ơn gọi khi lòng mỏi mệt. Ở lại với bổn phận khi không ai ghi nhận. Ở lại với người mình đã hứa yêu thương khi tình yêu đi qua thử thách. Ở lại với Hội Thánh khi thấy nhiều điều làm mình đau lòng. Ở lại với thập giá cho đến khi thập giá nở hoa. Vì rất có thể, sự thánh thiện lớn nhất của một đời người không nằm ở chỗ họ đã làm được bao nhiêu điều rực rỡ, nhưng nằm ở chỗ giữa những đêm dài, họ vẫn không bỏ đi.

Và biết đâu, chính trong những đêm tưởng như không có gì xảy ra ấy, Thiên Chúa đang âm thầm tạo nên nơi ta một trái tim giống Chúa Giêsu hơn: hiền hơn, sâu hơn, nghèo hơn, bớt đòi hỏi hơn, biết cảm thông hơn, bền hơn trong yêu thương hơn. Khi ấy, đêm tối không còn chỉ là một khoảng thời gian phải chịu đựng, nhưng trở thành một trường học bí nhiệm, nơi Chúa dạy linh hồn yêu Ngài không phải vì ánh sáng, nhưng vì chính Ngài; không phải vì an ủi, nhưng vì chân lý; không phải vì dễ chịu, nhưng vì tín thác. Và một linh hồn học được điều đó rồi, thì dẫu còn đi trong đêm, cũng đã mang lửa ở bên trong.

Back To Top